Псальма 49
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Проводиреві хора, для синів Корея, псальма. Слухайте се, всї народи; почуйте всї люде на землї.
1Hỡi các dân, hãy nghe điều nầy; Hỡi hết thảy người ở thế gian, khá lắng tai nghe,
2Сини людські як і сини мужів — старшин, разом багаті і вбогі.
2Bất luận người hạ lưu hay là thượng lưu, Người giàu có cũng như người nghèo nàn.
3Уста мої скажуть мудре слово, і думкою серця мого помножу розум.
3Miệng tôi sẽ nói lời khôn ngoan, Sự suy gẫm lòng tôi sẽ là sự thông sáng.
4Прихилю ухо моє до притчі, при гуслях відкрию загадку мою:
4Tôi sẽ lắng tai nghe lời châm ngôn; Tôi sẽ lấy đàn cầm mà giải câu đố tôi.
5Чому б то мусїв я боятись в день лиха, як обгорне мене несправедливість тих, що на здогін за мною,
5Vì cớ sao tôi phải sợ trong ngày tai họa, Khi sự gian ác của những kẻ muốn chiếm vị tôi vây phủ tôi?
6Котрі вповають на свої достатки, і великостю багацтва свого величаються.
6Chúng nó nhờ cậy nơi tài sản mình, Phô trương của cải dư dật mình.
7Нїколи не здолїє чоловік спасти брата свого, і не зможе дати викуп за него,
7Chẳng có người nào chuộc được anh em mình, Hoặc đóng giá chuộc người nơi Đức Chúa Trời,
8(Бо дороге спасеннє душі їх, і тому мусить понехати на віки.)
8Hầu cho người được sống mãi mãi, Chẳng hề thấy sự hư nát.
9Щоб він жив на віки, і не бачив зотлїння.
9Vì giá chuộc mạng sống họ thật mắc quá, Người không thể làm được đến đời đời.
10Бачить бо він, що розумні вмирають, що дурень і безумний разом пропадають, і достатки свої другим лишають.
10Vì người thấy người khôn ngoan chết, Kẻ điên cuồng và người ngu dại cũng chết như nhau, Để lại tài sản mình cho kẻ khác.
11В них на думцї, що доми їх вічно стоять, і що домівки їх з рода в рід; вони називають країни своїми іменами.
11Tư tưởng bề trong chúng nó rằng nhà mình sẽ còn mãi mãi, Và chỗ mình ở vẫn có đời nầy qua đời kia; Chúng nó cũng lấy chính tên mình đặt cho đất ruộng mình.
12Але ж чоловік, що живе в повазї, не зостанеться; він зрівняється скоту, що на зарізь.
12Nhưng loài người dầu được sang trọng, chẳng còn mãi; Nó giống như thú vật phải hư mất.
13Ся дорога для глупоти їх; а ті, що після них приходять, любуються їх думкою.
13Con đường nầy mà chúng nó giữ theo, ấy là sự ngu dại của chúng nó; Dầu vậy, những kẻ đến sau họ ưng lời luận của họ.
14Кладуть їх, як овець, в підземну країну, а смерть пасе їх; аж поки вранцї возьмуть верх над ними праведні, і підземна країна пожере постать їх, кожного далеко від домівки його.
14Chúng nó bị định xuống âm phủ như một bầy chiên; Sự chết sẽ chăn giữ chúng nó: Sáng ngày người ngay thẳng sẽ quản hạt chúng nó; Sự đẹp đẽ chúng nó bị tiêu diệt trong âm phủ, Hầu cho chúng nó chẳng còn nơi ở nào nữa.
15Та Бог спасе душу мою з рук підземної країни; він бо прийме мене.
15Nhưng Đức Chúa Trời sẽ chuộc linh hồn tôi khỏi quyền âm phủ, Vì Ngài sẽ tiếp rước tôi.
16Не лякайся, коли чоловік обогатїє, коли зросте слава дому його.
16Chớ sợ khi người nào trở nên giàu có, Lúc sự vinh hiển nhà người ấy tăng lên;
17Бо, вмерши, не возьме нїчого з собою; не піде з ним пиха його до гробу.
17Vì khi người chết chẳng đem đi gì được, Sự vinh hiển người cũng không theo người xuống mồ mả đâu.
18Чи він благословив душу свою за життя свого, і будуть люде славити тебе за те, що ти твориш добро собі,
18Dẫu cho đang lúc sống người chúc phước cho linh hồn mình (Vả, người ta sẽ khen ngợi mình, nếu mình làm ích lợi cho mình),
19То все таки прийде вона до рідних батьків своїх; нїколи вже не побачать вони сьвітла.
19Thì người hẳn sẽ đi đến dòng dõi tổ phụ mình: Họ sẽ chẳng còn thấy ánh sáng nữa.
20Чоловік, що має повагу, а розуму не має, зрівняється скоту, що на зарізь.
20Người nào hưởng sự sang trọng mà không hiểu biết gì, Giống như thú vật phải hư mất.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.