2 Самуїлова 1
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1По Сауловій смертї, як Давид вернувсь, подужавши Амаликіїв, і перебув у Секелазї два днї,
1Sau khi Sau-lơ thác, và Đa-vít đã thắng dân A-ma-lét trở về rồi, thì ở Xiết-lác hai ngày.
2Приходить на третий день несподївано чоловік із табору Саулового; одїж на йому розідрана, а голова порохом посипана. Приступивши до Давида, припав він і поклонився до землї.
2Ngày thứ ba, xảy có một người ở dinh Sau-lơ trở về, quần áo rách rưới, đầu đóng bụi, đến trước mặt Đa-vít, sấp mình xuống đất mà lạy.
3І питає його Давид: Звідки прийшов єси? А він відказує: Я втїк із табору Ізрайлевого.
3Đa-vít hỏi người rằng: Người ở đâu đến? Thưa rằng: Tôi ở trại quân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi.
4І питає Давид: Що там сталось? А той каже: Військо повтїкало з бою, і багацько військових полягло й померло; та й Саул і син його Йонатан померли.
4Đa-vít nói: Vậy, việc xảy ra sao? Hãy thuật cho ta. Người thưa: Dân sự đã trốn khỏi chiến trường, và có nhiều người trong họ bị ngã chết; Sau-lơ và Giô-na-than, con trai người, cũng đều chết nữa.
5І питає Давид молодика, що принїс йому вість: Як ти взнав, що Саул та Йонатан померли?
5Đa-vít hỏi người trai trẻ đem tin ấy rằng: Làm sao ngươi biết Sau-lơ và con trai người đã chết?
6І відказав молодик, що принїс вість: Довелось менї случаєм ійти Гелвуйськими горами, коли ж дивлюсь — Саул настромивсь на свого списа, а колесницї й комонник зближаються до його.
6Người trai trẻ đem tin ấy thưa rằng: Tình cờ tôi đi qua núi Ghinh-bô-a, thấy Sau-lơ nương trên cây giáo mình. Xe và lính kị theo gần kịp người.
7Обернеться він назад себе й, побачивши мене, покликав мене. Я озвавсь: Чую!
7Người xây lại thấy tôi và gọi tôi. Tôi thưa rằng: Có tôi đây.
8Питає він: Хто ти? Відказую: Амаликій.
8Người nói cùng tôi rằng: Ngươi là ai: Tôi thưa: Tôi là dân A-ma-léc.
9І просить мене: Приступи до мене та завдай менї смерть, бо трівога смертня обняла мене, а душа ще вся в менї.
9Người bèn tiếp: Hãy lại gần giết ta đi, vì ta bị xây xẩm, nhưng hãy còn sống.
10І приступив я й завдав йому смерть, бо я знав, що він не переживе свого впаду. Тодї зняв я з голови в його царський вінець, і запинку з руки в його та й принїс оце мойму панові.
10Vậy, tôi đến gần và giết người đi, vì tôi biết người bại trận, không còn sống được. Đoạn, tôi lấy mão triều thiên trên đầu người và vòng vàng nơi cánh tay người, mà đem về đây cho chúa tôi.
11Тодї вхопив Давид одїж свою та й роздер її, а так само й його прибічники.
11Đa-vít bèn xé quần áo mình; hết thảy những người đi theo cũng đều làm như vậy.
12І сумували плачучи й постили до вечора по Саулові і по його синові Йонатанові і по людові Ізрайлевому й по домові Ізрайлевому, бо вони полягли від меча.
12Kế ấy, chúng để tang, khóc lóc, và nhịn đói cho đến chiều tối vì Sau-lơ, vì Giô-na-than, con trai người, vì dân sự của Đức Giê-hô-va, và vì nhà Y-sơ-ra-ên, bởi chúng đã bị gươm ngã chết.
13І питає Давид у молодика, що принїс йому звістку: Звідки ти? А той відказав: Я син Амаликія-заволоки.
13Đa-vít hỏi người trai trẻ đem tin nầy rằng: Ngươi ở đâu đến? Người thưa rằng: Tôi là con trai của một người ngoại bang, tức con của một người A-ma-léc.
14Давид же питає: Як же ти не боявсь простягти руку, щоб убити помазанника Господнього?
14Đa-vít nói rằng: Cớ sao ngươi không sợ giơ tay lên giết kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?
15І покликнув Давид на одного слугу й приказав йому: Вбий його! Той рубнув, і вмер він.
15Huyết ngươi đổ lại trên đầu ngươi! Miệng ngươi đã làm chứng về ngươi, vì ngươi đã nói rằng: Chính tôi đã giết đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.
16Давид же сказав: Кров твоя на голові твоїй; засуд на себе видав ти словом своїм: Я завдав смерть помазанникові Господньому.
16Đoạn, Đa-vít gọi một người trai trẻ mà nói rằng: Hãy lại gần, xông đánh hắn! Người ấy đánh hắn, và hắn chết.
17І зложив Давид плачевню пісьню над Саулом і над його сином Йонатаном,
17Bây giờ, Đa-vít làm bài ai ca nầy về Sau-lơ và Giô-na-than, con trai Sau-lơ,
18(І повелїв навчати синів Юдиних лука, як се написано в книзї праведного) і промовив:
18mà truyền dạy cho các con trẻ Giu-đa: Aáy là bài ai ca về Cung, chép trong sách kẻ công bình:
19Ой Ізраїлю! пробито (з лука) твою втїху в твоїх таки горах. Як се полягли хоробрі?
19Oâi! Y-sơ-ra-ên! kẻ danh vọng của ngươi đã thác trên gò nỗng ngươi! Nhân sao các kẻ anh hùng nầy bị ngã chết?
20Не росказуйте у Гетї, не звіщайте по улицях Аскалону, щоб жіноцтво Филистійське не радувалось, щоб не веселились дочки необрізаних.
20Chớ đi tuyên cáo điều đó trong Gát, Chớ rao truyền sự ấy trong các đường phố Aùch-ca-lôn. e các con gái Phi-li-tin vui vẻ, Và các con gái kẻ không chịu cắt bì mừng rỡ chăng?
21Ви ж гори, Гелвуйські, щоб на вас не впало нї дощу на ваші ниви, нї роси на поле, бо там покинений щит сильних, щит Саулів, мов би не мазано Саула сьвятою олїєю.
21Hỡi núi Ghinh-bô-a! Nguyện sương móc và mưa chẳng sa xuống trên ngươi, Và chẳng có đồng ruộng sanh sản vật dùng làm của lễ đầu mùa; Vì tại nơi đó, cái khiên của anh hùng bị nhơ nhuốc, Tức là cái khiên của Sau-lơ, nó sẽ chẳng hề được xức dầu nữa.
22Йонатанів меч не вертавсь назад без крові ранених, а й меч Саулів не вертався даром.
22Cây cung của Giô-na-than chẳng hề trở về Mà không dính đầy huyết kẻ chết, và mỡ của người dõng sĩ; Cây gươm của Sau-lơ không hề trở về mà không vinh quang.
23Любомирно з Йонатаном жив Саул на сьвітї, їх і смерть не розлучила; і бистрі й сильні обидва над орла й над лева.
23Khi còn sống, Sau-lơ và Giô-na-tha yêu nhau đẹp nhau, Lúc chết chẳng lìa khỏi nhau; Hai người vốn lẹ hơn chim ưng, Mạnh hơn con sư tử!
24Ой Ізрайлеві дочки, плачте по Саулї! Він у пурпур одягав вас, в радощі рядив вас; за його на вас золото блищало.
24Hỡi con gái Y-sơ-ra-ên, hãy khóc về Sau-lơ, Người đã mặc cho các ngươi áo xống màu đỏ điều xa xí, Trao giồi áo xống các ngươi bằng đồ vàng.
25Ой як упали потужні у бою! Убитий Йонатан на висотах твоїх.
25Cớ sao người dõng sĩ ngã giữa cơn trận? Nhân sao Giô-na-than thác trên gò nỗng các ngươi?
26Тяжко сумую по тобі, Йонатане, побратиме; ти був менї найдорожший; ти менї ба й над жіноче серце був любіщий!
26Hỡi Giô-na-than, anh tôi, lòng tôi quặn thắt vì anh. Anh làm cho tôi khoái dạ; Nghĩa bầu bạn của anh lấy làm quí hơn tình thương người nữ.
27Як се впали такі сильні, як погибла збруя воєнна?
27Cớ sao những anh hùng bị ngã xuống? Nhân sao các binh khí họ bị bẻ gãy?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.