2 Самуїлова
Chapter 24
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

2 Самуїлова 24

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І запалав ізнов Господень гнїв на Ізраїля, й побудив Давида розказати: Йди, перелїчи Ізраїля й Юду:
1Cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va lại nổi phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên. Ngài giục lòng Đa-vít nghịch cùng chúng mà rằng: Hãy đi tu bộ dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
2І повелїв царь воєводї Йоабові: Пройди по всїм поколїнням Ізрайлевим од Дана та й до Берсаби й перелїчіть народ, щоб менї знати лїк народу.
2Vua bèn nói với Giô-áp, là quan tổng binh ở gần người, mà rằng: Hãy đi khắp các chi phái Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e-Sê-ba, tu bộ dân sự, để cho ta biết số dân Y-sơ-ra-ên là bao nhiêu.
3І відказав Йоаб цареві: Господь, Бог твій, нехай ще стільки намножить народу, скілько його є, та ще й сто разів стільки, а добродїй мій й царь нехай дожиє сього; та на що й про що захотїлось сього мойму добродїєві й цареві?
3Giô-áp đáp cùng vua rằng: Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua làm cho dân sự vua ngày nay được còn thêm gấp bằng trăm, và nguyện mắt vua chúa tôi thấy sự gia thêm ấy! Nhưng cớ sao vua chúa tôi vui lòng về một việc như vậy?
4Та мусїв Йоаб з отаманнєм чинити по царському наказові. От і пійшов Йоаб із отаманнєм від царя, щоб складати перелїк народу Ізраїльського.
4Dầu vậy mặc lòng, lời của vua mạnh hơn sự chống trả của Giô-áp và các quan tướng. Vậy, Giô-áp và các quan tướng ở trước mặt vua, đều đi ra đặng tu bộ dân Y-sơ-ra-ên.
5І перейшли вони Йордань та й роспочали рахубу в Ароері по правому боцї города, що стоїть посеред долини Гадової по дорозї Язеру;
5Sau khi qua sông Giô-đanh rồi, chúng hạ trại tại A-rô-e, về phía hữu thành ở giữa trũng Gát; rồi hại trại tại Gia-ê-xe.
6Тодї прибули в Галаад та й пройшли до землї Тахтим-Годші, й прибули в Дан-Яан і обійшли Сидон;
6Từ đó họ đi vào trong xứ Ga-la-át, về hướng xứ thấp của Hốt-si. Kế đó, họ đến Đan-Gia-an và miền chung quanh Si-đôn.
7І прибули в замок Тирський й в усї городи Хивіїв і Канаанїїв, і вийшли на полуднє Юдеї в Бирсабію;
7Họ cũng đi đến thành lũy xứ Ty-rơ, vào các thành dân Hê-vít và dân Ca-na-an, rồi họ giáp đến Bê-e-Sê-ba tại miền nam Giu-đa.
8Пройшовши так по всьому царству, прийшли через девять місяцїв і двайцять день в Ерусалим.
8Như vậy, họ đi khắp xứ và trở về Giê-ru-sa-lem trong chín tháng và hai mươi ngày.
9І подав Йоаб цареві перелїк, що зроблено при переглядї народу, й налїчено Ізрайлитян вісїм сот тисяч мужів сильних і спосібних до війни, а Юдеїв пятьсот тисяч.
9Giô-áp bèn trao cho vua cái sổ trọn sự tu bộ dân sự: trong Y-sơ-ra-ên có tám trăm ngàn người lính chiến, có tài cầm gươm được, và trong Giu-đa năm trăm ngàn người.
10Та вдарила Давида совість після того, як він звелїв перелїчити люд. І промовив Давид до Господа: Тяжко провинив я тим, що вчинив тепер, але молю тебе, Господи, прости гріх раба твого, бо я вельми (збуяв) нерозумно вчинив.
10Sau khi tu bộ dân sự rồi, Đa-vít bị lương tâm cắn rứt, bèn cầu Đức Giê-hô-va rằng: Tôi làm như vậy, thật là đã phạm tội rất nặng. Vậy, bây giờ Đức Giê-hô-va ôi! xin hãy cất tội lỗi của kẻ tôi tớ Ngài đã phạm; vì tôi có làm cách ngu dại quá.
11Як же тепер встав Давид другого дня вранцї, прийшло слово Господнє до пророка Гада, прозори Давидового;
11Sáng ngày mai, khi Đa-vít dậy, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tiên tri Gát, là người tiên kiến của Đa-vít, rằng:
12Ійди й скажи Давидові: Так глаголе Господь: Кладу перед тобою три речі; вибери одну, щоб я скарав тебе.
12Hãy đi nói với Đa-vít: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta có ba điều định cho ngươi; trong ba điều đó, hãy chọn một, rồi ta sẽ lấy nó mà phạt ngươi.
13І прийшов до Давида Гад, сповістив його про се й рече йому: Виберай, чи має бути в твоїй землї через сїм років голоднеча, чи щоб ти три місяцї втїкав од ворогів твоїх, а вони вганяли за тобою, чи нехай через три днї морова пошесть буде в твоїй землї? Оце ж надумуйсь та й дивись, що маю сказати тому, хто мене послав.
13Gát đi đến cùng Đa-vít, thuật các lời đó cho người, mà rằng: Vua muốn chọn điều nào? hoặc bảy năm đói kém trong nước vua, hoặc trong ba tháng vua phải chạy trốn khỏi trước mặt kẻ thù nghịch đuổi theo vua, hoặc ba ngày dịch hạch trong nước vua? Bây giờ, hãy suy nghĩ và xem điều tôi phải thưa lại cùng Đấng đã sai tôi.
14І відказує Давид Гадові: Дуже менї тяжко, але нехай впаду я в руки Господнї, милосердє бо його велике; людям же в руки впасти не хочу.
14Đa-vít bèn đáp cùng Gát rằng: Sự khốn khổ tôi lớn thay! Thế thì, nguyện tôi sa vào tay của Đức Giê-hô-va, vì những sự thương xót của Ngài là lớn lắm; nhưng chớ cho tôi sa vào tay của loài người ta.
15І послав Господь морову пошесть на Ізрайлитян від досьвітку аж по назначений час; і померло люду від Дану до Берсабії сїмдесять тисяч чоловіка.
15Vậy, Đức Giê-hô-va khiến dịch hạch phá hại trong dân Y-sơ-ra-ên, từ buổi sớm mai cho đến thì giờ Ngài đã nhất định. Trong dân sự, từ Đan đến Bê-e-Sê-ba, chết bảy vạn người.
16Як простяг же ангел руку свою на Ерусалим, щоб вигубити його, зжалївсь Господь над нуждою та й повелїв ангелові, що вигублював люд: Годї! одведи руку твою. Ангел же Господень був саме тодї на тоцї в Евузія Орни.
16Thiên sứ giơ tay ra trên Giê-ru-sa-lem đặng hại nó; song Đức Giê-hô-va hối hận về tai họa ấy, bèn phán cùng thiên sứ hành hại dân sự rằng: Thôi! bây giờ hãy rút tay ngươi lại. Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va ở gần sân đạp lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít.
17Вбачаючи же Давид, як ангел побиває народ, благав Господа, промовляючи: Я провинив, я (пастирь) вчинив переступ, се ж вівцї — чим вони винні? Оберни ж руку твою проти мене й дому мого!
17Đa-vít thấy thiên sứ hành hại dân sự, bèn thưa với Đức Giê-hô-va như vầy: Aáy chính tôi đã phạm tội, tôi là kẻ có tội; còn các con chiên kia có làm chi? Nguyện tay Chúa chỉ hành hại tôi và nhà cha tôi.
18І прийшов того дня до Давида Гад і рече йому: Йди, спорудь Господеві жертівника на тоцї в Евузія Орни.
18Ngày đó, Gát đến tìm Đa-vít, và nói rằng: Hãy đi lên, lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại nơi sân đạp lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít.
19І пійшов Давид по слову Гадовому, як повелїв Господь.
19Vậy, Đa-vít theo lời của Gát, đi lên y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn người.
20Споглянувши ж Орна й побачивши, що царь із двором своїм простує до його, вийшов і вклонився перед царем лицем до землї.
20A-rau-na ngước mắt lên, thấy vua và các tôi tớ người đi tới trước mặt mình, liền đi ra và sấp mình xuống đất trước mặt vua.
21Питає тодї Орна: Чого йде добродїй й царь мій до раба свого? І відказав Давид: Щоб купити в тебе гумно, й спорудити жертівника Господеві, й так одвернути пошесть від люду.
21Đoạn, A-rau-na nói: Cớ chi vua chúa tôi đến nhà kẻ tôi tớ vua? Đa-vít đáp: Aáy đặng mua sân đạp lúa ngươi, và xây tại đó một cái bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, để ngừng tai họa hành hại dân sự.
22І каже тодї Орна Давидові: Нехай мій добродїй й царь візьме що хоче та й принесе жертву. Ось воли на всепаленнє, й вози й ярма волові на дрова.
22A-rau-na tâu với Đa-vít rằng: Xin vua chúa tôi hãy dâng làm của lễ điều gì vua lấy làm tốt lành: Nầy những bò dùng làm của lễ thiêu; cộ và ách bò dùng làm củi để đốt của tế lễ.
23Се все дає, мій царю, Орна цареві, а Господь, Бог твій, нехай прийме обіт твій.
23Oâi vua! mọi điều đó A-rau-na xin dâng cho vua. A-rau-na tiếp: Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua tiếp nhận vua!
24Однак же царь відказав Орнї: Нї, я куплю в тебе за гроші, й не хочу приносити Господеві всепаленнє, що менї досталось дармо. От і купив Давид гумно, й воли за пятьдесять срібних секлів.
24Vua đáp cùng A-rau-na rằng: không không được; ta muốn mua hết của ngươi, cứ theo giá bạc. Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi. Vậy, Đa-vít mua sân đạp lúa và bò giá năm mươi siếc-lơ bạc.
25І спорудив там Давид Господеві жертівника й принїс всепаленнє й мирну жертву. І Господь змилосердився над країною, та й одвернув погубу від Ізраїля.
25Người lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và dâng của lễ thiêu cùng của lễ thù ân. Thế thì, Đức Giê-hô-va động lòng thương Y-sơ-ra-ên, và tai họa trong xứ bèn ngừng lại.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.