2 Самуїлова
Chapter 20
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

2 Самуїлова 20

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Був там якось чоловік негодяй, Беняминїй, на ймя Себа Бихриєнко. Сей затрубив у трубу та й кликнув: Нема нам нїякої спільностї з Давидом анї долї в синї Ессейовому. Рушаймо по домах, Ізрайлитяне!
1Tại đó có một người gian tà tên là Sê-ba, con trai của Biếc-ri, người Bên-gia-min; người thổi kèn lên và nói rằng: Chúng ta chẳng có phần nào cùng Đa-vít, cũng chẳng can thiệp gì nơi con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên, mỗi người hãy trở về trại mình!
2І відпали всї Ізрайлитяне від Давида до Себи Бихриєнка; навпаки ж Юдеї остались при цареві свойму від Йорданї аж до Ерусалиму.
2Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên bèn phân rẽ Đa-vít, theo Sê-ba, con trai Biếc-ri; nhưng người Giu-đa vẫn trung tín cùng vua mình, theo người từ Giô-đanh cho đến Giê-ru-sa-lem.
3Вернувши Давид у Ерусалим до своєї палати, повелїв перевести десять наліжниць, що покинув доглядати палату, ув окремнїй будинок і там обмислив їх усячиною, однак не пригортавсь до їх. Так і жили вони замкнені до своєї смертї вдовицями.
3Khi Đa-vít trở về cung mình tại Giê-ru-sa-lem rồi, thì bắt mười người cung phi vua đã để cho coi giữ đền, mà cầm trong một nhà riêng, cấp lương thực cho chúng nó dùng; nhưng không đi đến cùng chúng nó; chúng nó bị giam cầm, ở góa cho đến ngày chết.
4Тодї повелїв царь Амазї: Поскликай до мене Юдеїв в три днї; стань і сам передо мною тут.
4Kế đó, vua nói cùng A-ma-sa rằng: Trong ba ngày đây, hãy nhóm hiệp cho ta những người Giu-đa; và chính ngươi cũng phải có mặt đây.
5І пустивсь Амаз в дорогу скликати Юдеїв. Як загаявся ж довше, нїж йому призначено,
5Vậy, A-ma-sa đi đặng nhóm hiệp người Giu-đa; nhưng người chậm trễ đã quá hạn đã định.
6Рече Давид Авессї: Оце Себа Бихриєнко доведе нас до лихої години, гірш Абессалома. Возьми людей твого пана та й жени за ним, щоб не опанував утвердженого якого города та не уйшов нам.
6Đa-vít bèn nói với A-bi-sai rằng: Bây giờ, Sê-ba, con trai Biếc-ri, sẽ làm hại chúng ta hơn Aùp-sa-lôm. Vậy, ngươi hãy đem các chiến sĩ của chúa ngươi, đuổi theo Sê-la, kẻo nó choán lấy thành nào kiên cố, và thoát khỏi chúng ta chăng?
7От і пійшли з ним люде Йоабові, й всї хелетеї й фелетеї і всї хоробрі. І рушили вони з Ерусалиму, наздоганяючи Себу Бихриєнка.
7Bấy giờ, đạo binh Giô-áp, người Kê-rê-thít và người Phê-rê-thít với các kẻ dõng sĩ hơn hết, đều đi theo A-bi-sai. Họ đi ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, đuổi theo Sê-ba con trai Biếc-ri.
8Як були вони коло величезного каменя, показавсь перед ними Амаз. Йоаб же був одягнений в тїсну воїнську одежу та й приперезаний мечем, що висїв у його при боцї, та легко в піхву входив і з неї виходив.
8Khi chúng đến gần bên hòn đá lớn của Ga-ba-ôn, thì thấy A-ma-sa đi đến. Giô-áp mặc áo lính, ở ngoài có dây đeo gươm mình, thòng ở nơi hông và đút trong vỏ. Khi người xơm tới, gươm bèn tuột ra.
9І промовив Йоаб до Амаза: Здоров, брате! Та й узяв Йоаб правою рукою Амазу за бороду, щоб його поцїлувати.
9Giô-áp nói với A-ma-sa rằng: Hỡi anh, anh mạnh chăng? Rồi người lấy bàn tay hữu nắm râu A-ma-sa đặng hôn người.
10Амаза ж не постеріг меча у Йоаба, а той пхнув його в черево, так що утроба з його випала на землю, й не повторяв уже удару, й той умер. Тепер кинувсь Йоаб і брат його Абесса нагонця за Себою Бихриєнком.
10A-ma-sa không coi chừng cây gươm ở nơi tay kia của Giô-áp. Giô-áp đâm một mũi trong bụng, ruột A-ma-sa đổ ra xuống đất, người chết, không phải đâm lại lần thứ nhì. Đoạn, Giô-áp và A-bi-sai, em người lại đuổi theo Sê-ba, con trai Biếc-ri.
11Один же з Йоабового війська став і покликував: Хто держиться Йоаба й хто за Давида, рушай за Йоабом!
11Một đứa trẻ trong bọn đầy tớ của Giô-áp đứng gần A-ma-sa mà nói rằng: Ai thương Giô-áp và thuộc về Đa-vít hãy theo Giô-áp.
12Амаз же скровавлений лежав на дорозї, й бачивши той, що всї люде зупиняються над ним, одволїк Амазу з дороги на поле та й накинув його одежиною, щоб проходячі не зупинялись над ним.
12Song A-ma-sa đẵm trong máu ở giữa đường; khi đứa trẻ thấy hết thảy dân chúng đều dừng lại gần thây A-ma-sa, thì xít thây người khỏi đường, đem đi trong một cánh đồng, đắp một cái áo choàng trên nó.
13Як одволочено його з дороги, то ввесь люд простував слїдом за Йоабом, щоб наздоганяти Себу Бихриєнка.
13Khi thây đã cất khỏi đường cái rồi, thì hết thảy dân chúng đều đi qua theo Giô-áp đặng đuổi theo Sê-ba, con trai Biếc-ri.
14Він же пройшов по всїх поколїннях Ізрайлевих аж до Абел-Бет-Мааха й через цїлий Берим, і всї добірні мужі збірались і йшли за ним.
14Giô-áp đi khắp các chi phái Y-sơ-ra-ên, cho đến A-bên-Bết-ma-ca, và hết thảy những dõng sĩ đều nhóm hiệp lại và đi theo đạo quân người.
15І прийшли вони й облягли його в Абел-Бет-Маасї, й насипали проти городу вал, і підступали під мур, і всї люде, що були при Йоабові, взяли розбивати мур.
15Vậy, họ đến vây phủ Sê-ba trong A-bên-Bết-ma-ca, đắp lên một cái lũy cao hơn đồn thành, và cả đạo quân Giô-áp đào tường thành đặng làm cho nó ngã xuống.
16Аж ось крикнула одна мудра женщина з муру міського: Слухайте! слухайте! Скажіть Йоабові: Ійди сюди, я перемовлюсь із тобою!
16Bấy giờ, có một người nữ khôn ngoan ở trên đầu đồn thành la lên cùng chúng rằng: Các ngươi hãy nghe, hãy nghe! Xin hãy nói cùng Giô-áp lại gần đây, tôi muốn nói chuyện cùng người.
17Як же він прийшов, питає женщина: Ти Йоаб? І каже він: Я. І каже вона йому: Вислухай слова раби твоєї. І відказав: Слухаю.
17Khi Giô-áp đã lại gần, người nữ hỏi rằng: Oâng có phải Giô-áp chăng? người đáp: Phải, ta. Nàng tiếp: Hãy nghe lời con đòi ông. Người đáp: Ta nghe.
18І промовила вона так: У давні давна була така приповідка: хто хоче питати, нехай питає ув Абелї, й так чинено.
18Nàng bèn nói như lời nầy: Thuở xưa người ta có thói quen nói rằng: hãy đi hỏi ý dân A-bên; rồi mới nên việc như thế.
19Я з мирних, вірних (міст) в Ізраїлї, а ти хочеш зруйнувати город, матїр городів ув Ізраїлї. На що руйнуєш наслїддє Господнє?
19Trong Y-sơ-ra-ên, thành chúng tôi là một thành hòa bình và trung hậu hơn hết, mà ông lại muốn diệt một thành, là chánh đô của Y-sơ-ra-ên sao? Nhân sao ông muốn phá hủy cơ nghiệp của Đức Giê-hô-va?
20І відказав Йоаб: Далеке се від мене. Не хочу я нї руйнувати, нї бурити!
20Giô-áp đáp rằng: Không, không phải vậy đâu! Ta quyết hẳn không muốn diệt, không muốn phá hủy!
21Ось в чому річ: один чоловік із гори Ефраїмової, на ймя Себа, син Бихрів, зняв руку на царя Давида. Видайте менї його, а я відступлю від города. І промовила женщина до Йоаба: Зараз перекинуть голову його тобі через мур.
21Đó chẳng phải là ý ta. Nhưng có một người ở núi Eùp-ra-im tên là Sê-ba, con trai của Biếc-ri, đã phản nghịch cùng vua, tức là Đa-vít. Hãy nộp một mình hắn thôi, thì ta sẽ dan ra khỏi thành. Người nữ nói cùng Giô-áp rằng: Người ta sẽ ném đầu hắn qua tường cho ông.
22Тодї пійшла вона з своїм мудрим словом перед народ. І відтяли голову Себі Бихриєнкові, та й кинули Йоабові. Тодї звелїв він затрубити в труби, й усе військо відступило від города та й розійшлося по своїм шатрам, а Йоаб вернувсь до царя в Ерусалим.
22Vậy, người nữ ấy đến trước mặt cả dân chúng, và nói cho nghe lời ý luận khôn ngoan của nàng. Chúng chém đầu Sê-ba, con trai Biếc-ri, rồi ném cho Giô-áp. Giô-áp bèn thổi kèn lên; đạo quân dan ra khỏi thành và tản đi; ai nấy đều trở về nhà mình, còn Giô-áp trở về Giê-ru-sa-lem, gần bên vua.
23І поставлено Йоаба над усїм військом Ізрайлевим, а Банею Йодаєнка над хелетеями й над фелетеями;
23Giô-áp tổng lãnh cả đạo binh của Y-sơ-ra-ên; Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, làm đầu trưởng các người Kê-rê-thít và Phê-rê-thít;
24Адорама над поборами, а Йосафата, сина Ахилудового, дїєписцем;
24A-đô-ram được bầu cử coi về thuế khóa; Giô-sa-phát, con trai A-hi-lút, làm thủ bộ;
25Суса був царським писарем; Садок та Абіятар були сьвященниками;
25Sê-gia làm thơ ký; Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế lễ.
26Також Іра Яритїй був сьвященником у Давида.
26Còn Y-ra, người Giai-rơ, làm tể tướng thân mật của Đa-vít.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.