2 Самуїлова
Chapter 17
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

2 Самуїлова 17

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І промовив Ахитофел до Абессалома так: Виберу я собі дванайцять тисяч чоловіка та й пійду навздогін за Давидом сієї ночі,
1A-hi-tô-phe lại nói cùng Aùp-sa-lôm rằng: Xin cho phép tôi chọn mười hai ngàn quân. Tôi sẽ kéo ra đuổi theo Đa-vít nội đêm nay.
2Та й нападу на його, покіль він ще втомлений й занепалий духом. От я наведу на його страх; увесь люд, що він при собі має, пійде в ростїч, і я вбю самого одного царя;
2Tôi sẽ xông vào người trong lúc người mệt mỏi, ngã lòng, và làm cho người kinh khiếp; cả dân chúng đi theo người sẽ chạy trốn, và tôi sẽ giết một mình vua.
3І приведу до тебе ввесь люд, як одного чоловіка, й коли не стане того одного, що ти його шукаєш, тодї буде мирен увесь люд.
3Như vậy, tôi sẽ dẫn cả dân chúng trở về cùng ông; vì sự chết của một mình người mà ông vẫn đuổi theo đó, sẽ khiến cho mọi người trở về; vậy, cả dân chúng sẽ được bình yên.
4Рада ся була до вподоби Абессаломові й усїй старшинї Ізрайлевій.
4Aùp-sa-lôm và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều nhận lời ấy là phải.
5Однакже повелїв Абессалом: Покличте ще й Архійця Хусія, почуємо, що він скаже.
5Song Aùp-sa-lôm nói rằng: Hãy vời Hu-sai, người Aït-kít đến, để chúng ta cũng nghe lời người bàn nữa.
6Як же ввійшов Хусій до Абессалома, каже йому Абессалом: Так і так радить Ахитофел. Чи маю чинити по його слову? Коли нї, говори ти.
6Hu-sai đã vào trong đền Aùp-sa-lôm, thì Aùp-sa-lôm nói cùng người rằng: A-hi-tô-phe đã nói lời như vậy; chúng ta có nên làm theo lời người đã bàn hay chăng?
7І відказав Хусій Абессаломові: На сей раз Ахитофелева рада не найлучша.
7Hu-sai bèn đáp cùng Aùp-sa-lôm rằng: Lần nầy, lời bàn của A-hi-tô-phe không được tốt lành.
8І каже Хусій: Ти знаєш панотця твого й людей його, що вони хоробрі та ще й роздражнені, мов ведмедиця в полі, що в неї однято ведмежата. До того ж панотець твій войовник, що не ночлїгує з людьми.
8Người tiếp rằng: Vua đã biết vua cha và các người của vua cha, là những dõng sĩ, có lòng nóng giận khác nào gấu cái trên rừng bị người ta bắt con nó. Lại nữa, vua cha, là một người thạo việc chiến trận, chắc chẳng ở đêm cùng đạo binh đâu.
9Певно тепер він у якій розчілинї, або де инде заховавсь. Як поляже кілька з людей при першому нападові на них, і почують се другі, так торочити муть: між людьми, прихильними до Абессалома, сталось побоїще.
9Quả lúc nầy người ẩn mình trong một hang hố nào hay là trong chỗ nào khác. Nếu khởi tiên, chúng ta bị thua, hết thảy những kẻ nghe sẽ nói rằng: Phe của Aùp-sa-lôm đã bị thua.
10І тодї станеться, що й хоробрий, що серце в його левине, злякається їх, бо ввесь Ізраїль знає, що панотець твій невмірака, а його дружина також мужі хоробрі.
10Bây giờ, kẻ mạnh bạo hơn hết, dầu có lòng như sư tử, cũng phải nát gan; vì cả Y-sơ-ra-ên biết rằng vua cha là một tay anh hùng, và những kẻ theo người đều là can đảm.
11Оце ж раджу: Нехай скупиться ввесь Ізраїль від Дана та й до Берсабиї круг тебе, щоб його було стілько, як піску на морському березї, й сам ти вирушиш посеред їх;
11Nên tôi bàn rằng thà hết thảy dân Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e-Sê-ba, hiệp lại chung quanh ông, đông như cát trên bờ biển, thì hơn. Oâng sẽ thân hành ra trận.
12Як ударимо на його, в якому б нї було місцї, де стрінемо його, й впадемо на його, як падає роса на землю, тодї не зостанеться нї один із мужів, що круг його.
12Vô luận người ở chỗ nào, chúng ta sẽ xông đến người, đáp trên người như sương sa trên đất; rồi người và kẻ theo người cũng không thể thoát khỏi được.
13Коли ж би схоронився в який город, то ввесь Ізраїль обтягне город верівками, й ми стягнемо його в прірву, так що й камень на каменї не зістанеться.
13Nếu người ẩn mình trong thành nào, cả Y-sơ-ra-ên tất sẽ lấy dây vòng chung quanh thành đó, rồi kéo thành đó xuống đáy khe, đến đỗi người ta không thấy một cục đá nào còn lại.
14І промовив Абессалом і всї Ізрайлитяне: Рада Архійця Хусія крашча над Ахитофелеву раду. Так то Господь вдїяв, що впала лучша рада Ахитофелева, щоб навести біду на Абессалома.
14Bấy giờ, Aùp-sa-lôm và cả dân Y-sơ-ra-ên đều nói rằng: Mưu của Hu-sai, người Aït-kít, hay hơn mưu của A-hi-tô-phe. Vả, Đức Giê-hô-va đã định làm bại mưu khôn ngoan của A-hi-tô-phe, hầu giáng sự tai họa trên Aùp-sa-lôn vậy.
15І сповістив Хусій сьвященників Садока та Абіятара: Так і так раяв Ахитофел Абессаломові, а так і так пораяв я.
15Bấy giờ, Hu-sai nói cùng hai thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha, rằng: A-hi-tô-phe có dâng mưu nọ mưu kia cho Aùp-sa-lôm, và cho các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, nhưng ta lại dâng mưu khác nầy.
16Оце ж посилаи хутко таку вістку Давидові: Не ночлїгуй над бродами в степу, а переходь зараз, щоб цареві й усьому людові, що при йому, не погибнути.
16Vậy bây giờ, hãy mau mau báo tin cho Đa-vít mà rằng: Chớ ở đêm ngoài đồng bằng của sa mạc; hãy đi tới xa hơn, kẻo vua và các người đi theo phải bị tai vạ chăng.
17Йонатан же та Ахимаас стояли над Рогель-криницею. І прибігла служебка та й принесла їм вість; а вони кинулись сповістити царя Давида, бо їм не можна було появитись у городї.
17Giô-na-than và A-hi-mát đứng tại Eân-Rô-ghên, không dám vào trong thành, e người ta thấy; một con đòi đến báo tin cho hai người phải báo lại cho vua Đa-vít.
18Побачив їх однакже якийсь хлопець та й сповістив Абессалома, але вони побігли хутко далїй, та й прибігли в господу одного чоловіка в Бахуримі: а в його був у дворі колодязь; вони й повлазили туди,
18Nhưng có một người trai trẻ thấy họ, bèn đến thuật cho Aùp-sa-lôm hay. Hai người đã vội vã cùng đi và đến nhà của một người ở Ba-hu-rim; trong sân người có một cái giếng, hai người bèn xuống đó.
19А молодиця возьми та й накинь плахту на колодязь, та й насипала крупів на покривало, щоб не було нїчогісїнько в догад.
19Vợ của người nầy lấy một cái mền trải trên miệng giếng, rồi trên đó người rải phơi lúa mạch, cho người ta không nghi ngờ chi hết.
20Як же прийшли від Абессалома до молодиці люде та поспитали: Де Ахимаас і Йонатан? каже молодиця: Вони перебріли ріку. Вони шукали, та не знайшли, й вернулись у Ерусалим.
20Các tôi tớ của Aùp-sa-lôm đến nhà người nữ nầy mà hỏi rằng: A-hi-mát và Giô-na-than ở đâu? Người nữ đáp rằng: Hai người đã qua suối rồi. Vậy, họ đi theo tìm, song không gặp, bèn trở về Giê-ru-sa-lem.
21Як же вони одійшли геть, повилазили ті з колодязя, махнули далїй та й принесли цареві Давидові звістку, й сказали Давидові: Переброджуйте борше воду, бо так і так порадив про вас Ахитофел.
21Sau khi chúng đi rồi, A-hi-mát và Giô-na-than đi lên khỏi giếng, rồi đi báo tin nầy cho Đa-vít, rằng: Hãy chổi dậy, mau qua sông, vì A-hi-tô-phe đã bàn định mưu nầy nghịch cùng vua.
22Метнувсь тодї Давид і ввесь люд, що був при йому, та й перейшли Йордань. Поки ранок настав, не було нїкого, щоб не перебрів Йорданї.
22Đa-vít bèn chổi dậy, với cả dân theo người, rồi đi qua sông Giô-đanh. Vừa rạng đông, chẳng còn sót một người nào chưa qua sông.
23Побачивши ж Ахитофел, що порада його не пійшла в лад, осїдлав осла та й пустивсь у дорогу до дому у свій отецький город, а розпорядивши господою своєю, завісивсь, і вмер, та й поховано його в батьковому гробі.
23A-hi-tô-phe thấy người ta không theo mưu của mình, bèn thắng lừa, trở về thành mình, và vào trong nhà người. Sau khi người đã sắp đặt việc mình rồi, thì tự thắt cổ mà chết. Người ta chôn người trong mộ của cha người.
24От і дійшов Давид уже до Маханаїму, як Абессалом з усїма Ізрайлитянами перейшов Йордань.
24Đang lúc Đa-vít đi đến Ma-ha-na-im, thì Aùp-sa-lôm đi ngang qua sông Giô-đanh, có cả đạo quân Y-sơ-ra-ên đi theo.
25Намість Йоаба настановив Абессалом Амессая головою в війську. Амессай був сином одного чоловіка, що звавсь Ефера з Езрееля, що ввійшов був до Абигеї, дочки Нааса, а сестри Саруїної, матері Йоабової.
25Aùp-sa-lôm đã lập A-ma-sa làm tổng binh thế cho Giô-áp. Vả, A-ma-sa là con trai của một người Y-sơ-ra-ên, tên là Gít-ra, xưa đã ăn ở cùng A-bi-ganh, là con gái của Na-hách, chị của Xê-ru-gia, mẹ của Giô-áp.
26І отаборивсь Ізраїль із Абессаломом у землї Галаадській.
26Y-sơ-ra-ên đóng trại với Aùp-sa-lôm tại trong xứ Ga-la-át.
27Як прийшов же Давид у Маханаїм, то Сабій, син Наасів із Раби Аммонїйської, й Махир, син Амміїлів із Лодабару, та Берзеллїй Галаадїй з Роглиму,
27Khi Đa-vít đã đến Ma-ha-na-im, thì Sô-bi, con trai Na-hách, quê ở Ráp-ba, là thành của dân Am-môn, với Ma-ki, con trai A-mi-ên ở thành Lô-đê-ba, và Bát-xi-lai, người Ga-la-át, ở thành Rô-ghê-lim, đều đem cho Đa-vít và cho cả dân theo người
28Принесли постелї, тарілки, горшки, глиняний посуд, ячменю, пшеницї, муки, пшона, бобу, сочовицї, й жарених зерен,
28những giường, chén, chậu đất, lúa mì, lúa mạch, bột mì, hột rang, đậu, phạn đậu, và các thứ hột rang khác,
29Меду, масла, овець, і коровячого сира Давидові й людям, що були з ним, на їду, бо казали: Люд голоден, утомлений, й натерпівсь спраги в пустинї.
29mật ong, mỡ sữa, con chiên, và bánh sữa bò, đặng cho Đa-vít và đạo quân người ăn; vì chúng nói rằng: Dân sự đã đói khát và mệt nhọc trong đồng vắng.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.