2 ซามูเอล 17
Freedom Bible (Thai)Translation
Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1อาหิโธเฟลพูดกับอับซาโลมอีกว่า “ขอให้ข้าเลือกทหารหนึ่งหมื่นสองพันคนแล้วออกไล่ตามดาวิดคืนนี้
1A-hi-tô-phe lại nói cùng Aùp-sa-lôm rằng: Xin cho phép tôi chọn mười hai ngàn quân. Tôi sẽ kéo ra đuổi theo Đa-vít nội đêm nay.
2ข้าจะจู่โจมตอนเขาเหนื่อยและหมดแรง ทำให้เขาหวาดกลัว คนทั้งหมดที่อยู่กับเขาจะหนีไป ข้าจะฆ่ากษัตริย์เพียงคนเดียว
2Tôi sẽ xông vào người trong lúc người mệt mỏi, ngã lòng, và làm cho người kinh khiếp; cả dân chúng đi theo người sẽ chạy trốn, và tôi sẽ giết một mình vua.
3แล้วจะพาคนทั้งหมดกลับมาหาท่าน เมื่อจัดการคนที่ท่านตามหาได้ ก็เหมือนได้ทุกคนกลับมา ทุกคนจะอยู่กันอย่างสงบ”
3Như vậy, tôi sẽ dẫn cả dân chúng trở về cùng ông; vì sự chết của một mình người mà ông vẫn đuổi theo đó, sẽ khiến cho mọi người trở về; vậy, cả dân chúng sẽ được bình yên.
4อับซาโลมกับผู้อาวุโสทั้งหมดของอิสราเอลเห็นชอบกับแผนนี้
4Aùp-sa-lôm và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều nhận lời ấy là phải.
5แต่อับซาโลมกล่าวว่า “เรียกหุชัยชาวอารคีมาด้วย เราจะฟังว่าเขาคิดอย่างไร”
5Song Aùp-sa-lôm nói rằng: Hãy vời Hu-sai, người Aït-kít đến, để chúng ta cũng nghe lời người bàn nữa.
6เมื่อหุชัยมาถึง อับซาโลมเล่าแผนของอาหิโธเฟลให้ฟัง แล้วถามว่า “เราควรทำตามหรือไม่? ถ้าไม่ เจ้าก็บอกมา”
6Hu-sai đã vào trong đền Aùp-sa-lôm, thì Aùp-sa-lôm nói cùng người rằng: A-hi-tô-phe đã nói lời như vậy; chúng ta có nên làm theo lời người đã bàn hay chăng?
7หุชัยตอบว่า “ครั้งนี้คำปรึกษาของอาหิโธเฟลไม่ดี”
7Hu-sai bèn đáp cùng Aùp-sa-lôm rằng: Lần nầy, lời bàn của A-hi-tô-phe không được tốt lành.
8เขากล่าวต่อว่า “ท่านก็รู้ว่าพ่อของท่านกับคนของเขาเป็นนักรบกล้า และตอนนี้ดุร้ายราวกับแม่หมีที่ถูกแย่งลูกในทุ่ง พ่อของท่านชำนาญศึก จะไม่พักค้างคืนอยู่กับกองทหาร
8Người tiếp rằng: Vua đã biết vua cha và các người của vua cha, là những dõng sĩ, có lòng nóng giận khác nào gấu cái trên rừng bị người ta bắt con nó. Lại nữa, vua cha, là một người thạo việc chiến trận, chắc chẳng ở đêm cùng đạo binh đâu.
9บัดนี้เขาคงซ่อนอยู่ในหลุมหรือที่อื่นสักแห่ง ถ้าคนของเราบางคนล้มตายในการโจมตีครั้งแรก ผู้ได้ยินข่าวจะพูดว่า ‘คนที่ติดตามอับซาโลมถูกฆ่าเสียแล้ว!’
9Quả lúc nầy người ẩn mình trong một hang hố nào hay là trong chỗ nào khác. Nếu khởi tiên, chúng ta bị thua, hết thảy những kẻ nghe sẽ nói rằng: Phe của Aùp-sa-lôm đã bị thua.
10แม้แต่นักรบใจกล้าอย่างสิงโต ก็จะขวัญหนีดีฝ่อ เพราะทั่วอิสราเอลรู้ว่าพ่อของท่านเป็นนักรบกล้า และคนของเขาก็กล้าหาญ
10Bây giờ, kẻ mạnh bạo hơn hết, dầu có lòng như sư tử, cũng phải nát gan; vì cả Y-sơ-ra-ên biết rằng vua cha là một tay anh hùng, và những kẻ theo người đều là can đảm.
11ข้าจึงเสนอให้รวบรวมชาวอิสราเอลทั้งหมดมาหาท่าน ตั้งแต่ดานจนถึงเบเออร์เชบา มากมายเหมือนทรายริมทะเล และให้ท่านออกนำทัพเอง
11Nên tôi bàn rằng thà hết thảy dân Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e-Sê-ba, hiệp lại chung quanh ông, đông như cát trên bờ biển, thì hơn. Oâng sẽ thân hành ra trận.
12แล้วเราจะไปโจมตีเขา ณ ที่ซึ่งพบตัว เราจะเข้าประชิดราวกับน้ำค้างที่ปกคลุมพื้นดิน จะไม่เหลือเขาหรือคนที่อยู่กับเขาแม้แต่คนเดียว
12Vô luận người ở chỗ nào, chúng ta sẽ xông đến người, đáp trên người như sương sa trên đất; rồi người và kẻ theo người cũng không thể thoát khỏi được.
13ถ้าเขาเข้าไปในเมือง ชาวอิสราเอลทั้งหมดจะนำเชือกมาลากเมืองนั้นลงแม่น้ำ จนไม่เหลือแม้แต่ก้อนหินเล็ก ๆ”
13Nếu người ẩn mình trong thành nào, cả Y-sơ-ra-ên tất sẽ lấy dây vòng chung quanh thành đó, rồi kéo thành đó xuống đáy khe, đến đỗi người ta không thấy một cục đá nào còn lại.
14อับซาโลมกับชาวอิสราเอลทั้งหมดพูดว่า “คำปรึกษาของหุชัยชาวอารคีดีกว่าของอาหิโธเฟล” เพราะพระยาห์เวห์ทรงกำหนดให้คำปรึกษาที่ดีของอาหิโธเฟลถูกล้มเลิก เพื่อพระองค์จะนำภัยมาสู่อับซาโลม
14Bấy giờ, Aùp-sa-lôm và cả dân Y-sơ-ra-ên đều nói rằng: Mưu của Hu-sai, người Aït-kít, hay hơn mưu của A-hi-tô-phe. Vả, Đức Giê-hô-va đã định làm bại mưu khôn ngoan của A-hi-tô-phe, hầu giáng sự tai họa trên Aùp-sa-lôn vậy.
15หุชัยจึงบอกศาโดกกับอาบียาธาร์ปุโรหิตว่า “อาหิโธเฟลเสนอแผนอย่างนั้นแก่อับซาโลมและผู้อาวุโสอิสราเอล ส่วนข้าเสนอแผนอย่างนี้
15Bấy giờ, Hu-sai nói cùng hai thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha, rằng: A-hi-tô-phe có dâng mưu nọ mưu kia cho Aùp-sa-lôm, và cho các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, nhưng ta lại dâng mưu khác nầy.
16บัดนี้รีบส่งข่าวถึงดาวิดว่า ‘คืนนี้อย่าพักที่ท่าข้ามในถิ่นทุรกันดาร จงข้ามไปให้พ้น มิฉะนั้นกษัตริย์กับคนทั้งหมดที่อยู่กับท่านอาจถูกกวาดล้าง’”
16Vậy bây giờ, hãy mau mau báo tin cho Đa-vít mà rằng: Chớ ở đêm ngoài đồng bằng của sa mạc; hãy đi tới xa hơn, kẻo vua và các người đi theo phải bị tai vạ chăng.
17โยนาธานกับอาหิมาอัสรออยู่ข้างน้ำพุเอนโรเกล คนรับใช้หญิงคนหนึ่งคอยไปบอกข่าวแก่พวกเขา แล้วทั้งสองจึงไปทูลกษัตริย์ดาวิด เพราะพวกเขาไม่อาจเสี่ยงให้ใครเห็นขณะเข้าเมือง
17Giô-na-than và A-hi-mát đứng tại Eân-Rô-ghên, không dám vào trong thành, e người ta thấy; một con đòi đến báo tin cho hai người phải báo lại cho vua Đa-vít.
18แต่เด็กหนุ่มคนหนึ่งเห็นทั้งสองและไปบอกอับซาโลม โยนาธานกับอาหิมาอัสจึงรีบไปที่บ้านชายคนหนึ่งในบาฮูริม ซึ่งมีบ่อน้ำในลานบ้าน แล้วลงไปในบ่อ
18Nhưng có một người trai trẻ thấy họ, bèn đến thuật cho Aùp-sa-lôm hay. Hai người đã vội vã cùng đi và đến nhà của một người ở Ba-hu-rim; trong sân người có một cái giếng, hai người bèn xuống đó.
19หญิงคนนั้นเอาผ้าคลุมปากบ่อ แล้วโปรยเมล็ดข้าวบดไว้ข้างบน จึงไม่มีใครรู้เรื่อง
19Vợ của người nầy lấy một cái mền trải trên miệng giếng, rồi trên đó người rải phơi lúa mạch, cho người ta không nghi ngờ chi hết.
20คนของอับซาโลมมาถึงบ้านและถามนางว่า “อาหิมาอัสกับโยนาธานอยู่ไหน?” นางตอบว่า “พวกเขาข้ามลำธารไปแล้ว” คนเหล่านั้นตามหาแต่ไม่พบ จึงกลับเยรูซาเล็ม
20Các tôi tớ của Aùp-sa-lôm đến nhà người nữ nầy mà hỏi rằng: A-hi-mát và Giô-na-than ở đâu? Người nữ đáp rằng: Hai người đã qua suối rồi. Vậy, họ đi theo tìm, song không gặp, bèn trở về Giê-ru-sa-lem.
21เมื่อพวกเขาไปแล้ว ทั้งสองก็ขึ้นจากบ่อไปทูลกษัตริย์ดาวิดว่า “ลุกขึ้นรีบข้ามน้ำไป เพราะอาหิโธเฟลเสนอแผนโจมตีท่านเช่นนี้”
21Sau khi chúng đi rồi, A-hi-mát và Giô-na-than đi lên khỏi giếng, rồi đi báo tin nầy cho Đa-vít, rằng: Hãy chổi dậy, mau qua sông, vì A-hi-tô-phe đã bàn định mưu nầy nghịch cùng vua.
22ดาวิดกับทุกคนที่อยู่ด้วยลุกขึ้นข้ามแม่น้ำจอร์แดน พอรุ่งเช้าไม่มีใครเหลืออยู่ฝั่งเดิมเลย
22Đa-vít bèn chổi dậy, với cả dân theo người, rồi đi qua sông Giô-đanh. Vừa rạng đông, chẳng còn sót một người nào chưa qua sông.
23เมื่ออาหิโธเฟลเห็นว่าไม่มีใครทำตามคำปรึกษาของตน เขาก็ผูกอานลา ขี่กลับเมืองของตน จัดการเรื่องบ้านให้เรียบร้อย แล้วผูกคอตาย เขาถูกฝังในที่ฝังศพของพ่อ
23A-hi-tô-phe thấy người ta không theo mưu của mình, bèn thắng lừa, trở về thành mình, và vào trong nhà người. Sau khi người đã sắp đặt việc mình rồi, thì tự thắt cổ mà chết. Người ta chôn người trong mộ của cha người.
24ดาวิดมาถึงมาหะนาอิม ส่วนอับซาโลมกับชาวอิสราเอลทั้งหมดที่อยู่กับเขาข้ามแม่น้ำจอร์แดน
24Đang lúc Đa-vít đi đến Ma-ha-na-im, thì Aùp-sa-lôm đi ngang qua sông Giô-đanh, có cả đạo quân Y-sơ-ra-ên đi theo.
25อับซาโลมตั้งอามาสาเป็นผู้บัญชาการกองทัพแทนโยอาบ อามาสาเป็นบุตรของชายชื่ออิธรา ชาวอิสราเอล อิธราได้หลับนอนกับอาบีกายิลบุตรสาวของนาหาช ซึ่งเป็นพี่น้องกับนางเศรุยาห์แม่ของโยอาบ
25Aùp-sa-lôm đã lập A-ma-sa làm tổng binh thế cho Giô-áp. Vả, A-ma-sa là con trai của một người Y-sơ-ra-ên, tên là Gít-ra, xưa đã ăn ở cùng A-bi-ganh, là con gái của Na-hách, chị của Xê-ru-gia, mẹ của Giô-áp.
26อิสราเอลกับอับซาโลมตั้งค่ายในแผ่นดินกิเลอาด
26Y-sơ-ra-ên đóng trại với Aùp-sa-lôm tại trong xứ Ga-la-át.
27เมื่อดาวิดมาถึงมาหะนาอิม โชบี บุตรของนาหาช จากเมืองรับบาห์ของชาวอัมโมน มาคีร์ บุตรของอัมมีเอล จากโลเดบาร์ และบารซิลลัยชาวกิเลอาดจากโรเกลิม
27Khi Đa-vít đã đến Ma-ha-na-im, thì Sô-bi, con trai Na-hách, quê ở Ráp-ba, là thành của dân Am-môn, với Ma-ki, con trai A-mi-ên ở thành Lô-đê-ba, và Bát-xi-lai, người Ga-la-át, ở thành Rô-ghê-lim, đều đem cho Đa-vít và cho cả dân theo người
28นำเตียง อ่าง ภาชนะดินเผา ข้าวสาลี ข้าวบาร์เลย์ แป้ง ข้าวคั่ว ถั่ว ถั่วเลนทิล ธัญพืชคั่ว
28những giường, chén, chậu đất, lúa mì, lúa mạch, bột mì, hột rang, đậu, phạn đậu, và các thứ hột rang khác,
29น้ำผึ้ง เนย แกะ และเนยแข็งจากฝูงวัว มาให้ดาวิดกับคนของท่านกิน เพราะพวกเขากล่าวว่า “ผู้คนหิว เหนื่อย และกระหายในถิ่นทุรกันดาร”
29mật ong, mỡ sữa, con chiên, và bánh sữa bò, đặng cho Đa-vít và đạo quân người ăn; vì chúng nói rằng: Dân sự đã đói khát và mệt nhọc trong đồng vắng.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.