2 ซามูเอล
Chapter 14
Freedom Bible (Thai)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

2 ซามูเอล 14

Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1โยอาบ บุตร​นาง​เศรุยาห์​สังเกต​ว่า​กษัตริย์​มี​ใจ​คิดถึง​อับซาโลม
1Bấy giờ, Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, thấy lòng vua hướng về Aùp-sa-lôm,
2โยอาบ​จึง​ส่ง​คน​ไป​เรียก​หญิง​ฉลาด​คน​หนึ่ง​จาก​เทโคอา แล้ว​บอก​นาง​ว่า “จง​ทำ​ที​เป็น​คน​ไว้​ทุกข์ สวม​เสื้อผ้า​ไว้​ทุกข์ อย่า​ชโลม​น้ำมัน ทำตัว​เหมือน​หญิง​ที่​ไว้​ทุกข์​ให้​ผู้​ตาย​มา​นาน
2thì sai đi tìm tại Thê-cô-a một người đàn bà khôn khéo, mà dặn nàng rằng: Hãy làm bộ có tang, mặc áo chế, chớ xức dầu trên đầu nàng, song hãy có dáng một người đàn bà đã từ lâu ngày khóc một kẻ chết.
3เข้าไป​หา​กษัตริย์ แล้ว​พูด​ตาม​ที่​ข้า​จะ​บอก” โยอาบ​จึง​บอก​ถ้อยคำ​ที่​นาง​ต้อง​พูด
3Đoạn, hãy vào đền vua, tâu cùng vua theo cách nầy. Giô-áp bèn để trong miệng nàng các lời nàng phải nói.
4หญิง​ชาว​เทโคอา​เข้า​เฝ้า​กษัตริย์ หมอบ​หน้า​ลง​กับ​พื้น​แสดง​ความ​เคารพ แล้ว​ร้อง​ว่า “กษัตริย์​เจ้าข้า โปรด​ช่วย​ด้วย!”
4Vậy, người đàn bà ở Thê-cô-a đi đến cùng vua, sấp mình xuống đất mà lạy, rồi tâu rằng: Lạy vua, xin hãy cứu tôi!
5กษัตริย์​ถาม​นาง​ว่า “เจ้า​มี​เรื่อง​อะไร?” นาง​ตอบ​ว่า “ข้า​เป็น​หญิง​ม่าย สามี​ของ​ข้า​ตาย​แล้ว
5Vua nói: Ngươi muốn chi? Nàng thưa rằng: Hỡi ôi! tôi góa bụa, chồng tôi đã chết.
6ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​มี​บุตร​ชาย​สอง​คน วัน​หนึ่ง​พวก​เขา​ทะเลาะ​กัน​ใน​ทุ่ง ไม่มี​ใคร​แยก​ออก คน​หนึ่ง​จึง​ทำร้าย​อีก​คนจน​ตาย
6Kẻ đòi vua vốn có hai con trai; chúng nó đã đánh lộn với nhau ở ngoài đồng, và vì không ai can ra, nên đứa nầy đánh đứa kia chết.
7ตอน​นี้​ญาติ​ทั้ง​ครอบครัว​ลุก​ขึ้น​ต่อ​ต้าน​ข้า พวก​เขา​บอก​ว่า ‘ส่ง​คน​ที่​ฆ่า​พี่​น้อง​มา เรา​จะ​ฆ่า​เขา​ชดใช้​ชีวิต​พี่​น้อง​ที่​เขา​ฆ่า และ​จะ​กำจัด​ทายาท​คน​นั้น​ด้วย’ ถ้า​ทำ​อย่าง​นั้น​ก็​เท่ากับ​ดับ​ถ่าน​ไฟ​ก้อน​สุดท้าย​ที่​เหลือ​อยู่​ของ​ข้า ไม่​ให้​สามี​ของ​ข้า​มี​ทั้ง​ชื่อ​และ​ลูก​หลาน​เหลือ​อยู่​บน​แผ่น​ดิน”
7Vì đó, cả dòng họ đều dấy lên nghịch cùng con đòi của vua, và nói rằng: Hãy nộp cho chúng ta kẻ đã giết em mình, chúng ta muốn giết nó, để báo thù em nó mà nó đã giết; và mặc dầu nó là kẻ kế nghiệp, chúng ta cũng sẽ diệt nó. Vậy, chúng toan tắt đóm lửa còn lại cho tôi, không để cho chồng tôi hoặc danh, hoặc dòng dõi gì trên mặt đất.
8กษัตริย์​บอก​นาง​ว่า “กลับ​บ้าน​ไป​เถิด ข้า​จะ​ออก​คำ​สั่ง​เรื่อง​ของ​เจ้า”
8Vua nói cùng người đàn bà rằng: Hãy trở về nhà ngươi; ta sẽ truyền lịnh về việc ngươi.
9หญิง​ชาว​เทโคอา​ทูล​กษัตริย์​ว่า “นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์ ขอ​ให้​ความ​ผิด​ตก​อยู่​กับ​ข้า​และ​วงศ์​วาน​พ่อ​ของ​ข้า ส่วน​กษัตริย์​กับ​บัลลังก์​ของ​ท่าน​ขอ​ให้​ปราศจาก​ความ​ผิด”
9Người đàn bà Thê-cô-a thưa cùng vua rằng: Lạy vua chúa tôi, nguyện lỗi đổ lại trên tôi và trên nhà cha tôi, nguyện vua và ngôi vua không can dự đến!
10กษัตริย์​ตรัส​ว่า “ใคร​พูด​อะไร​กับ​เจ้า ก็​พา​เขา​มา​หา​ข้า เขา​จะ​ไม่​รบกวน​เจ้า​อีก”
10Vua tiếp: Nếu có ai hăm dọa ngươi nữa, hãy dẫn nó đến ta. Nó sẽ chẳng còn dám đụng đến ngươi nữa đâu.
11นาง​ทูล​ว่า “ขอ​กษัตริย์​ทรง​ระลึก​ถึง​พระยาห์เวห์​พระเจ้า​ของ​ท่าน เพื่อ​ผู้​ล้าง​แค้น​เลือด​จะ​ไม่​ทำลาย​อีก มิ​ฉะนั้น​พวก​เขา​จะ​ฆ่า​ลูกชาย​ของ​ข้า” กษัตริย์​ตอบ​ว่า “ข้า​ขอ​สาบาน​ต่อ​พระยาห์เวห์​ผู้​ทรง​พระชนม์​ว่า เส้น​ผม​ของ​ลูก​เจ้า​จะ​ไม่​ตก​ถึง​พื้น​แม้แต่​เส้น​เดียว”
11Nàng tiếp rằng: Tôi cầu xin vua hãy chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua làm chứng rằng kẻ báo thù huyết chớ làm hại tôi càng nặng hơn, và giết con trai tôi. Vua đáp: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề rằng, một sợi tóc sẽ chẳng rụng xuống khỏi đầu của con trai ngươi!
12นาง​ทูล​ว่า “ขอ​ให้​ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​พูด​กับ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์​อีก​สัก​คำ” ท่าน​ตอบ​ว่า “พูด​มา”
12Người đàn bà lại tiếp: Xin cho phép con đòi vua còn tâu một lời cùng vua chúa tôi nữa. Vua đáp: Hãy nói.
13นาง​จึง​ทูล​ว่า “เหตุ​ใด​ท่าน​จึง​วางแผน​ทำ​เช่น​นี้​ต่อประชาชน​ของ​พระเจ้า? เมื่อ​กษัตริย์​ตรัส​เช่น​นั้น ท่าน​ก็​เหมือน​ผู้​มี​ความ​ผิด เพราะ​ไม่​พา​คน​ที่​ถูก​ขับ​ไล่​กลับ​บ้าน
13Người đàn bà nói: Vậy thì sao đối cùng dân sự của Đức Chúa Trời, vua chẳng đoán xét đồng một thể? Vua phán lời đó giống như kẻ có tội, vì vua không đòi về đứa con trai mà vua đã đày đi.
14เรา​ทุก​คน​ต้อง​ตาย เหมือน​น้ำ​ที่​หก​ลงพื้น​แล้ว​เก็บ​คืน​ไม่​ได้ พระเจ้า​ไม่​ได้​ทรง​เอา​ชีวิต​ไป แต่​ทรง​หา​ทาง​ไม่​ให้​คน​ที่​ถูก​ขับ​ไล่​ต้อง​ถูก​ตัดขาด​จาก​พระองค์
14Vì rốt lại, chúng ta là kẻ hay chết, giống như nước chảy trên đất, không hốt lại được. Nhưng Đức Chúa Trời không cất mạng sống đi, Ngài biết tìm cách thế đặng không đẩy kẻ bị đầy cách xa Ngài.
15ที่​ข้า​มา​พูด​เรื่อง​นี้​กับ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์ ก็​เพราะ​ผู้คน​ทำให้​ข้า​กลัว ข้า​จึง​คิด​ว่า ‘ข้า​จะ​ลอง​ทูล​กษัตริย์ บางที​ท่าน​อาจ​ทำ​ตาม​คำร้อง​ขอ​ของ​ผู้รับใช้’
15Bấy giờ, nếu tôi đến tâu cùng vua chúa tôi, ấy vì dân sự làm cho tôi run sợ. Con đòi vua có nghĩ rằng: Mình phải tâu cùng vua, có lẽ vua sẽ làm điều con đòi vua cầu xin.
16เพราะ​กษัตริย์​จะ​ทรง​ฟัง​และ​ช่วย​ข้า​พ้น​จาก​มือ​คน​ที่​คิด​จะ​กำจัดข้า​กับ​บุตรชาย​ของ​ข้า​ให้​หมด​ไป​จาก​มรดก​ซึ่ง​เป็น​ของ​พระเจ้า
16Phải, vua sẽ nghe con đòi vua mà giải cứu nó khỏi tay kẻ muốn diệt chúng tôi, là tôi và con trai tôi, khỏi sản nghiệp của Đức Chúa Trời.
17ข้า​คิด​ว่า ‘ขอ​ให้​คำ​ตรัส​ของ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์​นำ​ความ​สงบ​มา เพราะ​นาย​ของ​ข้า​แยกแยะ​ดี​ชั่ว​ได้​เหมือน​ทูต​สวรรค์​ของ​พระเจ้า ขอ​พระยาห์เวห์​พระเจ้า​ของ​ท่าน​สถิต​กับ​ท่าน’”
17Vậy, con đòi vua đã nghĩ rằng: Chớ chi lời của vua chúa tôi ban cho chúng tôi sự an nghỉ; vì vua chúa tôi khác nào một thiên sứ của Đức Chúa Trời, hiểu sự lành và sự dữ. Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua ở cùng vua!
18กษัตริย์​ตรัส​กับ​หญิง​นั้น​ว่า “ข้า​จะ​ถาม​อะไร​เจ้า​อย่าง​หนึ่ง อย่า​ปิดบัง​ข้า” นาง​ตอบ​ว่า “เชิญ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์​ตรัส​เถิด”
18Vua nói tiếp cùng người đàn bà rằng: Chớ dấu ta chi hết về điều ta sẽ hỏi ngươi. Người đàn bà thưa rằng: Xin vua chúa tôi hãy hỏi.
19กษัตริย์​ถาม​ว่า “โยอาบ​อยู่​เบื้อง​หลัง​เรื่อง​นี้​ทั้งหมด​ใช่​ไหม?” นาง​ตอบ​ว่า “ข้า​ขอ​สาบาน​ต่อ​ชีวิต​ของ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์ ไม่มี​ใคร​บ่ายเบี่ยง​จาก​สิ่ง​ที่​ท่าน​ตรัส​ได้​เลย โยอาบ​ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​เป็น​ผู้​ขอ​ให้​ข้า​ทำ และ​สอน​ให้​ข้า​พูด​ทุก​คำ​นี้
19Vua hỏi: Có phải Giô-áp đã đặt tay vào mọi điều đó chăng? Người đàn bà thưa rằng: Vua chúa tôi ôi, tôi chỉ mạng sống của vua mà thề, người ta không thế xít qua bên hữu hoặc bên tả, đặng khỏi điều vua chúa tôi mới nói đó. Phải, ấy là Giô-áp, tôi tớ của vua, đã truyền lịnh cho tôi, và để các lời nầy trong miệng con đòi vua.
20โยอาบ​ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​ทำ​เช่น​นี้​เพื่อ​ให้ท่า​นม​อง​เรื่อง​นี้​ใน​อีก​แง่​หนึ่ง นาย​ของ​ข้า​ฉลาด​เหมือน​ทูต​สวรรค์​ของ​พระเจ้า รู้​ทุก​สิ่ง​ที่​เกิด​ขึ้น​บน​แผ่น​ดิน”
20Giô-áp, tôi tớ của vua, đã làm như vậy, để làm cho việc nầy thành ra cách mới. Nhưng chúa tôi là khôn ngoan như thiên sứ của Đức Chúa Trời, hiểu rõ mọi việc đã xảy ra trên đất.
21กษัตริย์​บอก​โยอาบ​ว่า “ข้า​ตกลง​ตาม​คำขอ​แล้ว ไปพา​อับซาโลม​ชายหนุ่ม​นั้น​กลับ​มา”
21Vua bèn nói cùng Giô-áp rằng: Vậy vì ngươi đã làm việc nầy, hãy đi đòi gã trai trẻ Aùp-sa-lôm trở về.
22โยอาบ​หมอบ​หน้า​ลง​กับ​พื้น​แสดง​ความ​เคารพ​และให้พร​แก่​กษัตริย์ แล้ว​กล่าว​ว่า “วัน​นี้​ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​รู้​ว่า​ข้า​เป็น​ที่​โปรดปราน​ใน​สายตา​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์ เพราะ​ท่าน​ทำ​ตาม​คำขอ​ของ​ผู้รับใช้”
22Giô-áp sấp mình xuống đất lạy, và chúc phước cho vua, mà rằng: Vua chúa tôi ôi, ngày nay tôi tớ vua biết rằng nó đã được ơn trước mặt vua; vì vua đã làm điều tôi tớ vua đã cầu xin Ngài.
23โยอาบ​จึง​ไป​เกชูร์​และ​พา​อับซาโลม​กลับ​เยรูซาเล็ม
23Giô-áp bèn chổi dậy, đi đến Ghê-su-rơ, đem Aùp-sa-lôm về Giê-ru-sa-lem.
24แต่​กษัตริย์​สั่ง​ว่า “ให้​เขา​กลับ​ไป​อยู่​บ้าน​ของ​ตน อย่า​ให้​มา​เห็น​หน้า​ข้า” อับซาโลม​จึง​กลับ​บ้าน​และ​ไม่​ได้​พบ​หน้า​กษัตริย์
24Vua bèn nói rằng: Nó phải rút ở trong nhà nó, chớ ra mặt trước mặt ta. Aáy vậy, Aùp-sa-lôm rút ở trong nhà mình, không ra mắt vua.
25ทั่ว​อิสราเอล​ไม่มี​ใคร​ได้​รับคำ​ชม​เรื่อง​รูป​โฉม​มาก​เท่า​อับซาโลม ตั้งแต่​ฝ่าเท้า​ถึง​ศีรษะ เขา​ไม่มี​ตำหนิ​เลย
25Vả, trong cả Y-sơ-ra-ên chẳng có một người nào được khen chuộng về nhan sắc mình như Aùp-sa-lôm; nơi mình người, từ bàn chân cho đến chót đầu, chẳng có tì vít gì hết.
26เมื่อ​อับซาโลม​ตัด​ผม (เขา​ตัด​ทุก​ปลาย​ปี​เพราะ​ผม​หนัก) เขา​ชั่ง​ผม​ที่​ตัด​ได้​สอง​ร้อย​เชเขล ตาม​มาตรา​ชั่ง​ของ​กษัตริย์
26Mỗi năm người hớt tóc mình, vì nặng làm cho người bất tiện, thì tóc người cân được hai trăm siếc-lơ, theo cân của vua.
27อับซาโลม​มี​บุตร​ชาย​สาม​คน และ​บุตร​สาว​คน​หนึ่ง​ชื่อ​ทามาร์ นาง​มี​ใบหน้า​งดงาม
27Aùp-sa-lôm sanh ba con trai và một con gái, tên là Ta-ma; nàng là người nữ rất lịch sự.
28อับซาโลม​อยู่​ใน​เยรูซาเล็ม​สอง​ปี​เต็ม​โดย​ไม่​ได้​พบ​หน้า​กษัตริย์
28Aùp-sa-lôm ở tại Giê-ru-sa-lem trọn hai năm, không ra mắt vua.
29เขา​ส่ง​คน​ไป​เรียก​โยอาบ​เพื่อ​จะ​ให้​โยอาบ​ไป​หา​กษัตริย์ แต่​โยอาบ​ไม่​ยอม​มา เขา​ส่ง​คน​ไป​อีก​ครั้ง โยอาบ​ก็​ยัง​ไม่​ยอม​มา
29Kế đó, Aùp-sa-lôm đòi Giô-áp đặng sai người đi đến cùng vua; nhưng Giô-áp không chịu đến gần người. Aùp-sa-lôn đòi người lại một lần thứ nhì, song Giô-áp lại từ chối, không muốn đến.
30อับซาโลม​จึง​สั่ง​คนรับใช้​ว่า “ทุ่ง​ของ​โยอาบ​อยู่​ข้าง​ทุ่ง​ข้า เขา​ปลูก​ข้าว​บาร์เลย์​ไว้ ไป​จุด​ไฟ​เผา​เสีย” คนรับใช้​ของ​อับซาโลม​จึง​เผา​ทุ่ง​นั้น
30Aùp-sa-lôn bèn nói cùng các tôi tớ mình rằng: Hãy xem ruộng của Giô-áp, là ruộng lúa mạch kia, ở gần bên ruộng ta; hãy đi châm lửa vào ruộng ấy. Các tôi tớ của Aùp-sa-lôm bèn châm lửa vào ruộng đó.
31โยอาบ​จึง​มา​หา​อับซาโลม​ที่​บ้าน​แล้ว​ถาม​ว่า “ทำไม​คน​ของ​เจ้า​จึง​เผา​ทุ่ง​ของ​ข้า?”
31Bấy giờ, Giô-áp đứng dậy, đến cùng Aùp-sa-lôn trong nhà người mà nói rằng: Cớ sao các tôi tớ ngươi có châm lửa vào ruộng ta?
32อับซาโลม​ตอบ​ว่า “ข้า​เรียก​เจ้า​มา​เพื่อ​จะ​ให้​ไป​บอก​กษัตริย์​ว่า ‘ข้า​กลับ​มา​จาก​เกชูร์​ทำไม? อยู่​ที่​นั่น​ยัง​จะ​ดี​กว่า ตอน​นี้​ขอ​ให้​ข้า​ได้​พบ​หน้า​กษัตริย์ และ​ถ้า​ข้า​มี​ความ​ผิด ก็​ให้​ท่าน​ฆ่า​ข้า​เสีย’”
32Aùp-sa-lôn nói với người rằng: Hãy đến đây, ta sẽ sai ngươi đến cùng vua, đặng nói rằng: Tôi đã ở Ghê-su-rơ trở về làm chi? Thà tôi còn ở đó thì hơn. Vậy bây giờ, tôi muốn ra mắt vua; ví bằng tôi có tội ác gì, xin vua hãy giết tôi đi.
33โยอาบ​ไป​บอก​กษัตริย์ เมื่อ​กษัตริย์​เรียก​อับซาโลม​มา เขา​ก็​เข้า​เฝ้า​และ​หมอบ​หน้า​ลง​กับ​พื้น​ต่อ​หน้า​กษัตริย์ กษัตริย์​จูบ​อับซาโลม
33Vậy, Giô-áp đi đến vua, thuật lại các lời ấy. Vua bèn đòi Aùp-sa-lôm đến; người vào đền vua, sấp mình xuống trước mặt vua, và vua hôn Aùp-sa-lôm.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.