2 ซามูเอล
Chapter 19
Freedom Bible (Thai)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

2 ซามูเอล 19

Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1มี​คน​บอก​โยอาบ​ว่า “กษัตริย์​ร้องไห้​ไว้​ทุกข์​ให้​อับซาโลม”
1Người ta đến nói cùng Giô-áp rằng: Kìa, vua khóc và than tiếc Aùp-sa-lôm.
2วัน​นั้น​ชัยชนะ​กลับ​กลาย​เป็น​ความ​โศก​เศร้า​ของ​ผู้คน​ทั้งหมด เพราะ​พวก​เขา​ได้ยิน​ว่า “กษัตริย์​เสียใจ​เรื่อง​ลูกชาย”
2Aáy vậy, chính trong ngày đó sự thắng trận bèn đổi ra sự thảm sầu cho cả dân sự; vì dân sự đã nghe nói rằng vua rất buồn bực về sự chết của con vua.
3วัน​นั้น​ผู้คน​แอบ​เข้า​เมืองราวกับ​คน​ที่​หนีศึก​กลับ​มา​อย่าง​อับอาย
3Nên nỗi, trong ngày đó, dân sự lén trở vào thành dường như một đạo binh mắc cỡ vì đã trốn khỏi chiến trận.
4กษัตริย์​ปิด​หน้า​และ​ร้อง​เสียง​ดัง​ว่า “อับซาโลม​ลูก​พ่อ! อับซาโลม ลูก​พ่อ ลูก​พ่อ!”
4Vua trùm mặt, la lớn tiếng lên rằng: Oâi, Aùp-sa-lôm, con trai ta! Oâi, Aùp-sa-lôm, con trai ta! con trai ta!
5โยอาบ​เข้าไป​หา​กษัตริย์​ใน​บ้าน​แล้ว​พูด​ว่า “วัน​นี้​ท่าน​ทำให้​คนรับใช้​ทุก​คน​ที่​ช่วย​ชีวิต​ท่าน ชีวิต​บุตร​ชาย​บุตร​สาว ภรรยา​และ​นาง​สนม​ของ​ท่าน ต้อง​อับอาย
5Giô-áp bèn vào nhà vua, và nói rằng: Ngày nay vua làm hổ mặt các kẻ tôi tớ vua, là những người chính ngày nay đã cứu mạng sống của vua, của các con trai và các con gái vua, luôn đến cứu mạng sống của các vợ và hầu vua nữa.
6เพราะ​ท่าน​รัก​คน​ที่​เกลียด​ท่าน และ​เกลียด​คน​ที่รัก​ท่าน วัน​นี้​ท่าน​แสดง​ชัด​ว่า​บรรดา​ผู้นำ​กับ​คนรับใช้​ไม่มี​ความ​หมาย​สำหรับ​ท่าน ข้า​เห็น​แล้ว​ว่า ถ้า​อับซาโลม​ยัง​มี​ชีวิต และ​วัน​นี้​พวกเรา​ทุก​คน​ตาย ท่าน​คง​พอใจ
6Vậy, vua thương những người ghét vua, và ghét những người thương vua; vì vua mới tỏ ra rằng những quan trưởng và các tôi tớ của vua chẳng ra chi với vua. Rày tôi biết rõ ràng nếu Aùp-sa-lôm còn sống, và chúng tôi ngày nay đều chết hết thảy, thì vừa ý vua.
7บัดนี้​ลุก​ขึ้น​ออก​ไป​พูด​ปลอบ​คน​ของ​ท่าน​เถิด ข้า​สาบาน​ต่อ​พระยาห์เวห์​ว่า ถ้า​ท่าน​ไม่​ออก​ไป คืน​นี้​จะ​ไม่มี​ใคร​อยู่​กับ​ท่าน​เลย และ​เรื่อง​นั้น​จะ​เลว​ร้าย​ยิ่ง​กว่า​ภัย​ทุก​อย่าง​ที่​ท่าน​ประสบ​มา​ตั้งแต่​หนุ่ม​จนถึง​บัดนี้”
7Thà vua chổi dậy, đi ra nói những lời giục lòng các tôi tớ vua; vì tôi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề rằng, nếu vua không chường ra, thì đêm nay sẽ không còn một người nào ở bên vua; và tai nạn ấy sẽ còn trọng hơn các tai nạn khác đã xảy đến cho vua từ khi thơ ấu tới ngày nay.
8กษัตริย์​จึง​ลุก​ขึ้น​ไป​นั่ง​ที่​ประตู​เมือง มี​คน​บอก​ทุก​คน​ว่า “กษัตริย์​นั่ง​อยู่​ที่​ประตู​เมือง​แล้ว” คน​ทั้งหมด​จึง​มา​เข้า​เฝ้า ส่วน​ชาว​อิสราเอล​ต่าง​หนี​กลับ​กระโจม​ของ​ตน
8Bấy giờ, vua chổi dậy, ngồi tại cửa thành. Người ta cho cả dân sự biết rằng vua đã ngồi tại cửa thành. Cả dân sự bèn kéo đến trước mặt vua. Vả, Y-sơ-ra-ên ai nấy đều đã chạy trốn nơi trại mình.
9ผู้คน​จาก​ทุก​ชน​เผ่า​ของ​อิสราเอล​โต้​เถียง​กัน​ว่า “กษัตริย์​เคย​ช่วย​เรา​จาก​ศัตรู​และ​ชาว​ฟีลิสเตีย บัดนี้​ท่าน​หนี​อับซาโลม​ออก​จาก​แผ่น​ดิน
9Trong các chi phái Y-sơ-ra-ên người ta trách nhau rằng: Vua đã giải chúng ta khỏi tay kẻ thù nghịch chúng ta, và người đã cứu chúng ta khỏi tay dân Phi-li-tin. Song bây giờ, người phải trốn khỏi xứ vì cớ Aùp-sa-lôm.
10ส่วน​อับซาโลม​ที่​เรา​เจิม​ให้​เป็น​กษัตริย์​เหนือ​เรา ก็​ตาย​ใน​สนามรบ​แล้ว ทำไม​พวก​เจ้า​จึง​ไม่​พูด​เรื่อง​รับ​กษัตริย์​กลับ​มา?”
10Vả, Aùp-sa-lôm mà chúng ta đã xức dầu cho làm vua chúng ta đã chết trong chiến trận. Vậy bây giờ, nhân sao các ngươi không nói đem vua trở về?
11กษัตริย์​ดาวิด​ส่ง​คำ​ถึง​ศาโดก​กับ​อาบียาธาร์​ปุโรหิต​ว่า “ไป​บอกบรรดา​ผู้ใหญ่​ของ​ยูดาห์​ว่า ‘ทำไม​พวก​ท่าน​เป็นก​ลุ่ม​สุดท้าย​ที่​จะ​รับ​กษัตริย์​กลับ​บ้าน ทั้ง​ที่​คำ​พูด​ของ​อิสราเอล​ทั้งหมด​เรื่อง​รับ​ท่าน​กลับ​มา​ถึง​กษัตริย์​แล้ว?
11Vua Đa-vít sai nói cùng hai thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha rằng: Hãy nói cùng các trưởng lão Giu-đa mà rằng: Lời cả Y-sơ-ra-ên nói về việc rước vua về, đã thấu đến nơi vua rồi; vậy, cớ sao các ngươi là kẻ sau chót đem vua về cung người?
12พวก​ท่าน​เป็น​พี่​น้อง เป็น​เลือด​เนื้อ​เดียว​กับ​ข้า ทำไม​จึง​เป็นก​ลุ่ม​สุดท้าย​ที่​จะ​รับ​กษัตริย์​กลับ​มา?’
12Các ngươi là anh em ta, là cốt nhục ta. Nhân sao các ngươi là kẻ sau chót đem vua về?
13แล้ว​จง​บอก​อามาสา​ว่า ‘เจ้า​เป็น​เลือด​เนื้อ​เดียว​กับ​ข้า​มิใช่​หรือ? ขอ​ให้​พระเจ้า​ลงโทษ​ข้า และ​เพิ่ม​โทษ​ให้​หนัก​ยิ่ง​ขึ้น หาก​เจ้า​จะ​ไม่​ได้​เป็น​ผู้​บัญชาการ​กองทัพ​ของ​ข้า​แทน​โยอาบ​ตลอด​ไป’”
13Cũng hãy nói cùng A-ma-sa rằng: Ngươi há chẳng phải là cốt nhục ta sao? Nếu ngươi không làm tổng binh thế cho Giô-áp hằng ở trước mặt ta, thì nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề.
14ดาวิด​โน้ม​น้าว​ใจ​ชาว​ยูดาห์​ทั้งหมด​ให้​เป็น​น้ำ​หนึ่ง​ใจ​เดียว พวก​เขา​จึง​ส่ง​คำ​ถึง​กษัตริย์​ว่า “ขอ​ท่าน​กับ​คนรับใช้​ทั้งหมด​กลับ​มา”
14Như vậy, Đa-vít được lòng hết thảy người Giu-đa, dường như họ chỉ một người mà thôi; họ bèn sai nói với vua rằng: Xin vua hãy trở về với hết thảy tôi tớ vua.
15กษัตริย์​จึง​กลับ​มา​ถึง​แม่น้ำ​จอร์แดน ชาว​ยูดาห์​มา​ที่​กิลกาล​เพื่อ​ต้อนรับ​และ​พา​กษัตริย์​ข้าม​แม่น้ำ
15Vậy, vua trở về, đến tại bờ sông Giô-đanh. Các người Giu-đa đi đến đón vua tại Ghinh-ganh đặng đưa vua qua sông Giô-đanh.
16ชิเมอี บุตร​ของ​เกรา ชาว​เบนยามิน​จา​กบาฮู​ริม​รีบ​ลง​มา​พร้อม​ชาว​ยูดาห์​เพื่อ​ต้อนรับ​กษัตริย์​ดาวิด
16Si-mê-i, con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min ở Ba-hu-rim, lật đật đi xuống với các người Giu-đa, đón vua Đa-vít.
17มี​ชาว​เบนยามิน​หนึ่ง​พัน​คน​มา​กับ​เขา ศิบา​คนรับใช้​วงศ์​วาน​ซาอูล​ก็​มา​ด้วย พร้อม​บุตร​ชาย​สิบ​ห้า​คน​และ​คนรับใช้​ยี่สิบ​คน พวก​เขา​ข้าม​แม่น้ำ​จอร์แดน​ต่อ​หน้า​กษัตริย์
17Một ngàn người Bên-gia-min đều theo người, với Xíp-ba, tôi tớ của nhà Sau-lơ, cùng mười lăm con trai người và hai mươi đầy tớ; chúng qua sông Giô-đanh tại trước mặt vua.
18มี​เรือ​ข้าม​ฟาก​มา​รับ​คนใน​บ้าน​กษัตริย์​ข้าม​ฝั่ง และ​ทำ​ตาม​ที่​กษัตริย์​เห็น​ว่า​ดี ชิเมอี บุตร​ของ​เกรา​หมอบ​ลง​ต่อ​หน้า​กษัตริย์​เมื่อ​ท่าน​ข้าม​แม่น้ำ​มา
18Chiếc đò để sẵn cho gia quyến vua cũng qua một lượt. Si-mê-i, con trai của Ghê-ra, phục dưới chân vua Đa-vít, trong khi vua hầu qua sông Giô-đanh.
19เขา​ทูล​ว่า “ขอ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์​อย่า​ถือ​โทษ​หรือ​จดจำ​ความ​ผิด​ที่​ผู้รับใช้​ทำ​ใน​วัน​ที่​ท่าน​ออก​จาก​เยรูซาเล็ม ขอ​อย่า​เก็บ​เรื่อง​นั้น​ไว้​ใน​ใจ
19Người nói cùng vua rằng: Cầu xin chúa tôi chớ kể tội ác cho tôi, và đừng nhớ đến sự gian tà mà kẻ tôi tớ vua đã phạm trong ngày vua chúa tôi đi ra khỏi Giê-ru-sa-lem. Xin vua chớ để điều đó vào lòng.
20ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​รู้​ว่า​ข้า​ทำบาป วัน​นี้​ข้า​จึง​เป็น​คน​แรก​จาก​วงศ์​วาน​โย​เซฟ​ที่​ลง​มา​ต้อนรับ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์”
20Kẻ tôi tớ vua nhìn biết mình đã phạm tội. Vì vậy, ngày nay trong cả nhà Giô-sép, tôi đã đến trước hết đặng xuống đón vua chúa tôi.
21แต่อาบีชัย บุตร​นาง​เศรุยาห์​ทูล​ว่า “ชิเมอี​ควร​ถูก​ประหาร​มิใช่​หรือ เพราะ​เขา​สาป​แช่ง​ผู้​ที่​พระยาห์เวห์​ทรง​เจิม?”
21Nhưng A-bi-sai, con trai Xê-ru-gia, đáp rằng: Vậy, người ta há không xử tử Si-mê-i vì cớ đó sao, là kẻ đã rủa sả đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?
22ดาวิด​ตอบ​ว่า “พวกเจ้า​บุตร​นาง​เศรุยาห์ เหตุใด​วัน​นี้​จึง​มาทำ​ตัว​เป็น​ศัตรู​กับ​ข้า? วัน​นี้​ควร​มี​ใคร​ถูก​ประหาร​ใน​อิสราเอล​หรือ? ข้า​รู้​อยู่​แล้ว​มิใช่​หรือ​ว่า​วัน​นี้​ข้า​เป็น​กษัตริย์​เหนือ​อิสราเอล?”
22Nhưng Đa-vít đáp cùng người rằng: Hỡi các con trai Xê-ru-gia, ta có can hệ chi với các ngươi chăng, mà ngày nay các ngươi ở với ta khác nào kẻ cừu địch? Trong một ngày như vậy, người ta há có thể sai giết một người trong Y-sơ-ra-ên ư? Ngày nay có lẽ nào ta không hiểu rằng ta là vua của Y-sơ-ra-ên sao?
23กษัตริย์​บอก​ชิเมอี​ว่า “เจ้า​จะ​ไม่​ตาย” และ​สาบาน​รับรอง​แก่​เขา
23Đoạn, vua nói cùng Si-mê-i rằng: Ngươi chẳng chết đâu. Rồi vua lập lời thề với người.
24เมฟีโบเชท​ลูก​หลาน​ของ​ซาอูล​ลง​มา​พบ​กษัตริย์ ตั้งแต่​วัน​ที่​กษัตริย์​จาก​ไป​จน​วัน​ที่​กลับ​มา​โดย​สันติ เขา​ไม่​ได้​ดูแล​เท้า ไม่​เล็ม​เครา และ​ไม่​ซัก​เสื้อผ้า
24Mê-phi-bô-sết, con trai của Sau-lơ, cũng đi xuống đón vua. Người không có rửa chân, chải râu hay là giặt áo mình từ lúc vua ra đi, cho đến ngày vua trở về bình an vô sự.
25เมื่อ​เขา​มา​ถึง​เยรูซาเล็ม​เพื่อ​เข้า​เฝ้า​กษัตริย์ กษัตริย์​ถาม​ว่า “เมฟีโบเชท ทำไม​เจ้า​ไม่​ไป​กับ​ข้า?”
25Khi người ở Giê-ru-sa-lem đến đón vua, thì Đa-vít hỏi người rằng: Hỡi Mê-phi-bô-sết, sao ngươi không đến cùng ta?
26เขา​ตอบ​ว่า “นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์ คนรับใช้​ของ​ข้า​หลอก​ข้า เพราะ​ข้า​พูด​ว่า ‘ข้า​จะ​ผูก​อาน​ลา​ไว้​ขี่​ไป​กับ​กษัตริย์’ เพราะ​ข้า​ขา​พิการ
26Người thưa rằng: Oâi vua chúa tôi, thằng tôi tớ tôi có đánh lừa tôi. Thật tôi nghĩ rằng: Tôi sẽ thắng lừa, rồi cỡi nó đặng đi theo vua; vì tôi tớ của vua là què.
27แต่​เขา​กลับ​ใส่​ร้าย​ข้า​ต่อ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์ ท่าน​เป็น​เหมือน​ทูต​สวรรค์​ของ​พระเจ้า โปรด​ทำ​ตาม​ที่​ท่าน​เห็น​ว่า​ดี
27Người ta có cáo gian tôi ở nơi vua chúa tôi; nhưng vua chúa tôi khác nào một thiên sứ của Đức Chúa Trời. Xin hãy đãi tôi theo ý vua lấy làm tốt.
28วงศ์วาน​ของ​พ่อ​ข้า​ทั้งหมด​ก็​ไม่​ต่าง​จาก​คน​ตาย​ต่อหน้า​ท่าน แต่​ท่าน​กลับ​ให้​ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​ร่วม​โต๊ะ​อาหาร ข้า​มี​สิทธิ์​อะไร​จะ​ร้องขอ​กษัตริย์​อีก?”
28Vì các người của nhà cha tôi trước mặt vua chúa tôi chỉ đáng chết mà thôi. Dầu vậy, vua đã để tôi vào số người ăn nơi bàn vua. Thế thì, tôi nào còn có lẽ gì mà phàn nàn cùng vua?
29กษัตริย์​ตอบ​เขา​ว่า “จะ​พูด​เรื่อง​ของ​เจ้า​อีก​ทำไม? ข้า​ตัดสิน​แล้ว​ว่า​เจ้า​กับ​ศิบา​แบ่ง​ที่ดิน​กัน”
29Vua nói cùng người rằng: Sao còn nói về việc mình làm chi? Ta đã nói rằng: Ngươi và Xíp-ba hãy chia lấy đất.
30เมฟีโบเชท​ทูล​ว่า “ให้​เขา​เอา​ไป​ทั้งหมด​ก็ได้ เพราะ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์​กลับ​ถึง​บ้าน​ของ​ท่าน​โดย​สันติ​แล้ว”
30Mê-phi-bô-sết thưa lại rằng: Xíp-ba lấy hết cũng được, bởi vua chúa tôi đã trở về nhà mình bình an vô sự.
31บารซิลลัย​ชาว​กิเลอาด​ลง​มา​จาก​โร​เก​ลิม และ​ข้าม​แม่น้ำ​จอร์แดน​ไป​กับ​กษัตริย์​เพื่อ​ส่ง​ท่าน​ข้าม​ฝั่ง
31Bát-xi-lai ở Ga-la-át cũng từ Rô-ghê-lim xuống, và qua sông Giô-đanh với vua đặng đưa vua đến bên kia sông.
32บารซิลลัย​ชรา​มาก อายุ​แปด​สิบ​ปี เขา​เคย​จัดหา​อาหาร​ให้​กษัตริย์​ตอน​พัก​ที่​มาหะนาอิม เพราะ​เขา​เป็น​คน​มี​ฐานะ​มาก
32Người đã già quá, được tám mươi tuổi, có cung cấp lương thực cho vua trọn lúc vua ở tại Ma-ha-na-im; vì người có nhiều của cải lắm.
33กษัตริย์​บอก​บารซิลลัย​ว่า “ข้าม​ไป​กับ​ข้า​เถิด ข้า​จะ​เลี้ยง​ดู​เจ้า​ที่​เยรูซาเล็ม”
33Vua nói với Bát-xi-tai rằng: Hãy qua sông Giô-đanh với ta, ta sẽ bao bọc cho ngươi ở nhà ta tại Giê-ru-sa-lem.
34บารซิลลัย​ตอบ​ว่า “ชีวิต​ข้า​เหลือ​อีก​กี่​ปี ถึง​จะ​ขึ้น​ไป​เยรูซาเล็ม​กับ​กษัตริย์?
34Nhưng Bát-xi-lai thưa cùng vua rằng: Bây giờ tôi còn bao lâu ngày nữa, mà lại cùng vua đi lên Giê-ru-sa-lem?
35วัน​นี้​ข้า​อายุ​แปด​สิบ​ปี​แล้ว ยัง​แยกแยะ​ดี​ชั่ว​ได้​หรือ? ยัง​รู้​รส​อาหาร​หรือ​เครื่อง​ดื่ม​หรือ? ยัง​ได้ยิน​เสียง​ชาย​หญิง​ร้อง​เพลง​หรือ? ทำไม​ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​จะ​ต้อง​เป็น​ภาระ​แก่​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์?
35Ngày nay tôi được tám mươi tuổi, há còn có thế phân biệt điều tốt và điều xấu ư? Kẻ tôi tớ vua cũng chẳng nếm được mùi của vật mình ăn và uống. Há lại có thể vui nghe người nam nữ ca xướng sao? Kẻ tôi tớ vua sẽ làm bận vua chúa tôi mà làm chi?
36ข้า​ข้าม​แม่น้ำ​ไป​ส่ง​กษัตริย์​อีก​นิด​เดียว เหตุ​ใด​ท่าน​จะ​ต้อง​ตอบแทน​มากมาย?
36Kẻ tôi tớ vua sẽ cùng vua đi tới một chút ở bên kia sông Giô-đanh. Cớ sao vua muốn thưởng cho tôi cách dường ấy?
37ขอ​ให้​ข้า​กลับ​ไป​ตาย​ที่​เมือง​ของ​ตน ใกล้​หลุม​ศพ​พ่อ​แม่ แต่​คิมฮาม​ผู้รับใช้​ของ​ท่าน​อยู่​ที่​นี่ ให้​เขา​ข้าม​ไป​กับ​นาย​ของ​ข้า​ผู้​เป็น​กษัตริย์​เถิด แล้ว​ท่าน​จะ​ปฏิบัติ​ต่อ​เขา​อย่างไร​ก็ได้​ตาม​ที่​ท่าน​เห็น​ว่า​ดี”
37Xin cho phép tôi trở về, hầu cho tôi chết trong thành tôi, gần bên mộ của cha mẹ tôi. Nhưng nầy là Kim-ham, kẻ tôi tớ vua; nó sẽ đi qua sông Giô-đanh với vua chúa tôi, rồi vua phải đãi nó tùy ý vua lấy làm tốt.
38กษัตริย์​ตอบ​ว่า “คิมฮาม​จะ​ข้าม​ไป​กับ​ข้า ข้า​จะ​ทำ​กับ​เขา​ตาม​ที่​เจ้า​ปรารถนา และ​จะ​ทำ​ทุก​สิ่ง​ที่​เจ้า​ขอ​จาก​ข้า”
38Vua tiếp rằng: Kim-ham sẽ theo ta, ta sẽ làm cho nó mọi điều ngươi muốn; hễ ngươi xin ta điều gì, thì ta sẽ nhậm cho.
39ผู้คน​ทั้งหมด​ข้าม​แม่น้ำ​จอร์แดน กษัตริย์​ก็​ข้าม​ไป​ด้วย ท่านจูบ​และ​ให้พร​บารซิลลัย แล้ว​บารซิลลัย​กลับ​ถิ่น​ของ​ตน
39Vậy, cả dân sự đều qua sông Giô-đanh, chính mình vua cũng đi nữa. Đoạn vua hôn và chúc phước cho Bát-xi-lai; rồi Bát-xi-lai trở về xứ sở mình.
40กษัตริย์​ข้าม​ไป​กิลกาล​โดย​มี​คิมฮาม​ไป​ด้วย ชาว​ยูดาห์​ทั้งหมด​กับ​ชาว​อิสราเอล​ครึ่ง​หนึ่ง​เป็น​ผู้​พา​กษัตริย์​ข้าม
40Từ đó, vua đi qua Ghinh-ganh, có Kim-ham, cả dân Giu-đa, và hơn phân nửa dân Y-sơ-ra-ên đều theo.
41ชาว​อิสราเอล​ทั้งหมด​มา​ถาม​กษัตริย์​ว่า “ทำไม​พี่​น้อง​ชาว​ยูดาห์​ของ​เรา​จึง​ชิง​พา​ท่าน​ไป พา​กษัตริย์ คนใน​บ้าน และ​คน​ของ​ดาวิด​ทั้งหมด​ข้าม​แม่น้ำ​จอร์แดน?”
41Bấy giờ, hết thảy người Y-sơ-ra-ên đến cùng vua, mà hỏi rằng: Cớ sao anh em chúng tôi là người Giu-đa, có lén đem vua, đi đưa sang sông Giô-đanh luôn với người nhà và hết thảy kẻ theo vua?
42ชาว​ยูดาห์​ตอบ​ชาว​อิสราเอล​ว่า “เพราะ​กษัตริย์​เป็น​ญาติ​ใกล้​ชิด​ของ​เรา พวก​เจ้า​จะ​โกรธ​ทำไม? เรา​ได้​กิน​อาหาร​จาก​กษัตริย์​หรือ​ได้​รับ​ของ​ขวัญ​อะไร​จาก​ท่าน​หรือ?”
42Người Giu-đa đáp lại cùng người Y-sơ-ra-ên rằng: Aáy vì vua là đồng tộc cùng chúng ta. Vả lại, cớ sao anh em giận? Chúng ta có ăn nhờ gì của vua chăng? Chúng ta há có lãnh một của gì nơi vua sao?
43ชาว​อิสราเอล​ตอบ​ชาว​ยูดาห์​ว่า “เรา​มี​ส่วน​ใน​กษัตริย์​สิบ​ส่วน เรา​จึง​มี​สิทธิ์​ใน​ดาวิด​มากกว่า​พวก​เจ้า ทำไม​พวก​เจ้า​ดู​หมิ่น​เรา ไม่​ถาม​ความ​เห็น​เรา​ก่อน​เรื่อง​รับ​กษัตริย์​ของ​เรา​กลับ​มา?” ชาว​ยูดาห์​ตอบโต้​ด้วย​ถ้อยคำ​รุนแรง​กว่า​ชาว​อิสราเอล
43Nhưng người Y-sơ-ra-ên đáp cùng người Giu-đa rằng: Chúng ta có mười phần nơi vua, lại Đa-vít thuộc về chúng ta hơn là các ngươi; vậy, cớ sao các ngươi không đếm xỉa đến chúng ta? Há chẳng phải chúng ta nói trước đem vua về sao? Những lời nói của người Giu-đa lại còn nặng hơn lời nói của người Y-sơ-ra-ên.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.