1 Царів
Chapter 1
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

1 Царів 1

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Як же Давид зостарівся, й вбивсь у високі лїта, так, було, нїяк не загріється, хоч його й у ковдри загортають.
1Vua Đa-vít đã già; tuổi cao; và mặc dầu người ta đắp áo cho người, cũng không thể ấm được.
2І кажуть йому слуги його: Нехай би пошукали добродїєві нашому цареві молоду дївчину; нехай би вона царя доглядала й услуговувала йому, й лежала на його лонї, й буде тепло нашому добродїєві, цареві.
2Các tôi tớ người nói với người rằng: Xin tìm cho vua chúa tôi một gái trẻ đồng trinh, để hầu hạ vua và săn sóc vua. Nàng sẽ nằm trong lòng vua, thì vua chúa tôi có thể ấm được.
3І шукали вони по всьому займищу Ізрайлевому що найкрасчої дївчини, та й знайшли Абисагу з Сунаму, та й привели її до царя.
3Vậy người ta tìm trong khắp địa phận Y-sơ-ra-ên một người gái trẻ đẹp, và gặp được A-bi-sác, người Su-nem, dẫn nàng đến cùng vua.
4І була вона гарна-прегарна дївчина, й ходила за царем і вслуговувала йому, але царь не пригортавсь до неї.
4Người gái trẻ này rất là lịch sự. Nàng săn sóc và hầu hạ vua; nhưng vua không thân cận nàng.
5Аж ось Адонїя, син Аггитин, розгордївшись, почав говорити: Я буду царем! От і завів собі колесницї й конї й пятьдесять чоловіка, що поперед ним бігали.
5Vả, A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, tự tôn mà rằng: Ta sẽ làm vua. Người sắm xe và quân kỵ, cùng năm mươi người chạy trước mặt mình.
6Батько ж (Давид) нїколи, поки жив, не картав його, питаючи: Про що ти се чиниш? А був він дуже гарний, та ще й уродивсь йому послї Абессалома.
6Cha người chẳng hề phiền lòng người mà hỏi rằng: Cớ sao mầy làm như vậy? Vả lại, A-đô-ni-gia rất đẹp, sanh ra kế sau Aùp-sa-lôm.
7І був він у змові з Йоабом Саруєнком та з сьвященником Абіятаром, і тягли вони за Адонїєю.
7Người bàn tính với Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia và với thầy tế lễ A-bia-tha; hai người theo phe A-đô-ni-gia và giúp đỡ người.
8Та сьвященник Садок і Банея Йодаєнко й пророк Натан, і Семей й Рисій, а також хоробрі Давидові не накладали з Адонїєю.
8Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc và Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, Na-than, thầy tiên tri, Si-mê-i, Rê-i, và các dõng sĩ của Đa-vít không theo phe A-đô-ni-gia.
9Позаколював раз Адонїя вівцї, корови й бички коло Зохелет-Каменя, що над криницею Рогель, і закликав до себе всїх братів своїх, синів царських, і всїх мужів Юдиних, що служили в царя;
9A-đô-ni-gia dâng những chiên, bò, và bò con mập bên hòn đá Xô-hê-lết, ở cạnh giếng Eân-Rô-ghên; rồi mời anh em mình, là các con trai của vua, và hết thảy những người Giu-đa phục sự vua.
10Пророка ж Натана, Банею й тих хоробрих, та свого брата Соломона не запросив до себе.
10Nhưng người chẳng mời Na-than, là đấng tiên tri, Bê-na-gia, các dõng sĩ, cùng Sa-lô-môn, em mình.
11Тодї сказав Натан до Бетсаби, матері Соломонової: Чи ти чула, що Адонїя, Аггитин син, озвав себе царем, а Давид, наш пан, про те й не знає?
11Bấy giờ, Na-than nói với Bát-Sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn, mà rằng: Bà há chẳng hay rằng A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đã làm vua, mà Đa-vít, chúa ta, chẳng hay biết sao?
12Оце ж я раджу тобі: рятуй життє твоє й життє сина твого Соломона.
12Thế thì, bây giờ, hãy nghe; tôi sẽ cho bà một kế để bà cứu mạng sống mình và mạng sống của Sa-lô-môn.
13Ійди до царя Давида та й скажи йому: Чи не сам же ти, мій добродїю й царю, заприсяг служебцї твоїй, кажучи: Син твій Соломон буде царем послї мене, й він засяде на мойму престолї? Про що ж оце Адонїя окликав себе царем?
13Hãy đi ra mắt vua Đa-vít, và tâu rằng: Oâi vua, chúa tôi! chúa há chẳng có thề cùng con đòi của chúa rằng: Con trai ngươi là Sa-lô-môn ắt sẽ trị vì kế ta, và nó sẽ ngồi trên ngôi ta, hay sao? Vậy, cớ sao A-đô-ni-gia trị vì?
14І оце, як ти ще розмовляти меш із царем, я ввійду за тобою та й доповню твої слова.
14Trong lúc bà tâu với vua như vậy, thì chính tôi cũng sẽ đi vào sau, làm cho quả quyết các lời của bà.
15І ввійшла Бетсаба до царя у спальню. Царь же був старезний, а Абисага з Сунаму вслуговувала цареві.
15Vậy, Bát-Sê-ba đi đến cùng vua, tại trong phòng. Vua đã già lắm có A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ người.
16І нахилилась Бетсаба й поклонилась цареві; а царь запитав: Що тобі треба?
16Bát-Sê-ba cúi mình xuống và lạy trước mặt vua. Vua hỏi rằng: Ngươi muốn chi?
17І відказала йому: Добродїю мій, царю! ти заприсяг служебцї твоїй перед Господом, Богом твоїм: Син твій Соломон буде царем після мене, й засяде на мойму престолї!
17Bà tâu rằng: Chúa tôi ôi! chúa đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúa thề cùng con đòi của chúa rằng: Sa-lô-môn con trai ngươi sẽ trị vì kế ta, và nó sẽ ngồi trên ngôi ta.
18А ось Адонїя окликнув себе царем, а ти, добродїю мій й царю, про се й не знаєш.
18Oâi vua chúa tôi! nhưng bây giờ, A-đô-ni-gia làm vua, mà chúa chẳng biết chi đến.
19Він позаколював багацько волів, товстих биків й овець, та запросив усїх синів царських, і сьвященника Абіятаря та Йоаба, гетьмана, до себе; кметя ж твого Соломона не закликав.
19Người lại có giết bò đực, bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cũng có mời hết thảy các vương tử với A-bia-tha, thầy tế lễ, và Giô-áp, quan tổng binh; nhưng người không mời Sa-lô-môn, kẻ tôi tớ vua.
20А на тебе, мій добродїю й царю, обернув тепер очі ввесь Ізраїль, щоб ти обявив їм, хто засяде після тебе, мій добродїю й царю, на твойму престолї?
20Oâi vua chúa tôi! cả Y-sơ-ra-ên đều xây mắt về vua, đợi vua cho họ biết ai là người kế vua phải ngồi trên ngai của vua, là chúa tôi.
21Ато скоро спочине мій добродїй й царь коло батьків своїх, я й син мій Соломон стояти мем зрадниками тут.
21Chẳng vậy, khi vua chúa tôi an giấc với các tổ phụ, thì tôi và con trai tôi là Sa-lô-môn sẽ bị xử như kẻ có tội.
22Ще ж вона говорила до царя, як увійшов пророк Натан.
22Bà đang còn tâu với vua, thì tiên tri Na-than đến.
23І сказано цареві: Ось пророк Натан! І прийшов він перед царя і поклонився цареві лицем до землї.
23Người ta đến thưa cùng vua rằng: Nầy có tiên tri Na-than. Na-than ra mắt vua, sấp mình xuống trước mặt người mà lạy.
24І промовив Натан: Мій добродїю й царю! чи се ти розпорядив: Адонїя має бути царем, і йому на мойму престолї седїти?
24và nói rằng: Oâi vua chúa tôi! có phải vua đã phán rằng: A-đô-ni-gia sẽ trị vì kế ta và ngồi trên ngai ta, chăng?
25Бо він сьогоднї спустивсь і заколов множество волів, годованих бичків і овечок та й закликав царевичів, а до того військову старшину й сьвященника Абіятара; й вони оце трапезують і пють перед ним, викликуючи: Нехай живе царь Адонїя!
25Thật vậy, ngày nay, người đã đi xuống giết bò, bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cùng mời hết thảy các vương tử, quan tướng, và thầy tế lễ A-bia-tha; kìa, họ ăn uống tại trước mặt người, và la lên rằng: A-đô-ni-gia vạn tuế!
26Мене ж, твого слугу, да сьвященника Садока, Банею Йодаєнка, й раба твого Соломона не кликав.
26Còn tôi là kẻ tôi tớ vua, thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, và Sa-lô-môn, tôi tớ vua, thì người chẳng có mời.
27Невже ж це сталось по наказу мого царя добродїя, й чому ти не сповістив кметя твого, хто після тебе, мій добродїю й царю, седїти ме на твойму престолї:
27Việc này há phải bởi vua chúa tôi mà ra? Và lại vua không cho các tôi tớ vua biết ai là người kế vua, phải ngồi trên ngai của vua chúa tôi.
28І відказав царь Давид і рече: Кликнути Бетсабу! Як же ввійшла вона й стала перед царем,
28Vua Đa-vít đáp rằng: Hãy gọi Bát-Sê-ba cho ta. Bà vào và đứng trước mặt vua.
29Поклявся царь і рече: Так певно, як живе Господь, що вирятовував мене з усякої біди,
29Đa-vít bèn thề mà rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã giải cứu mạng sống ta khỏi các hoạn nạn!
30Як заприсяг я тобі перед Господом, Богом Ізрайлевим: син твій Соломон мусить після мене бути царем і йому седїти на престолї мойму намість мене. Се я й справджу сьогоднї.
30Ta nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng ngươi rằng: Quả hẳn Sa-lô-môn, con trai ngươi, sẽ trị vì kế ta, nó sẽ ngồi trên ngai thế cho ta; thì ngày nay ta sẽ làm hoàn thành điều đó.
31І вклонилась Бетсаба лицем до землї, упала перед царем та й промовила: Нехай добродїй мій, царь Давид, живе по всї віки!
31Bát-Sê-ba cúi mặt xuống đất và lạy trước mặt vua, mà tâu rằng: Nguyện vua Đa-vít, chúa tôi, vạn tuế!
32І повелїв царь Давид: Кликнути до мене сьвященника Садока, пророка Натана й Банею Йодаєнка! Як же ввійшли вони перед царя,
32Đoạn, vua Đa-vít nói: Hãy gọi cho ta thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, và Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa. Mấy người ấy bèn ra mắt vua.
33Сказав їм царь: Возьміть слуг вашого пана з собою; потім посадїть сина мого Соломона на мого мула й везїть його в Гіон.
33Rồi vua nói với họ rằng: Hãy đem các đầy tớ của chủ các ngươi theo, đỡ Sa-lô-môn, con trai ta, lên cỡi con la của ta, rồi đưa nó đến Ghi-hôn.
34Нехай там помаже його сьвященник Садок і пророк Натан царем над Ізраїлем; тодї трубіть у трубу й викликуйте: Нехай живе царь Соломон!
34ỳ đó, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than phải xức dầu cho người làm vua Y-sơ-ra-ên. Đoạn, các ngươi hãy thổi kèn lên mà hô rằng:
35Потім проведїть його сюди, нехай увійде й сяде на мойму престолї й нехай він буде царем намість мене: бо я призначив його, щоб він був князем над Ізраїлем і Юдою!
35Vua Sa-lô-môn vạn tuế! Các ngươi sẽ theo sau người trở lên, người sẽ đến ngồi trên ngai ta, và trị vì thế cho ta. Aáy là người mà ta đã lập làm vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
36І відказав Банея Йодаєнко цареві й промовив: Аминь — так нехай скаже Господь, Бог пана мого, царя!
36Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa tâu cùng vua rằng: A-men! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua chúa tôi, cũng phán định như vậy.
37Як був Господь з моїм паном царем, нехай так буде й з Соломоном, і вчинить престол його ще висшим над престол мого пана, царя Давида.
37Đức Giê-hô-va đã ở cùng vua chúa tôi thể nào, nguyện Ngài cũng ở cùng Sa-lô-môn thể ấy, và khiến ngôi người còn cao trọng hơn ngôi của vua Đa-vít, là chúa tôi!
38І пішли сьвященник Садок і пророк Натан і Банея Йодаєнко вкупі з хелетеями й фелетеями та й посадили Соломона на мула царевого Давидового й повели його в Гіон.
38Đoạn, thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít, đều đi xuống, đỡ Sa-lô-môn lên cỡi con la của vua Đa-vít rồi đưa người đến Ghi-hôn.
39І взяв сьвященник Садок олїйного рога з намету та й помазав Соломона. Тодї затрублено в трубу, й ввесь люд викликував: Нехай живе царь Соломон!
39Thầy tế lễ Xa-đốc lấy cái sừng dầu trong Đền tạm, và xức cho Sa-lô-môn. Người ta thổi kèn, cả dân sự đều hô lên rằng: Vua Sa-lô-môn vạn tuế!
40І йшов увесь народ позад його, й грали люде в сопілки й радувались, так що аж земля розсїдалась од їх крику.
40Chúng đều theo người đi lên, thổi sáo, và vui mừng khôn xiết, đến nỗi đất rúng động bởi tiếng la của họ.
41І почув се Адонїя вкупі з запрошеними, саме коли скінчили трапезу. Почув також і Йоаб гук трубний та й каже: Що се за шум, що за гук у містї?
41A-đô-ni-gia và hết thảy kẻ dự tiệc với mình đều nghe tiếng này khi vừa ăn xong. Lúc Giô-áp nghe tiếng kèn, thì nói: Sao trong thành có tiếng xôn xao ấy?
42Ще він говорив, як увійшов Йонатан, син сьвященника Абіятара. І сказав Адонїя: Увійди сюди, ти чоловік чесний й приносиш добру звістку.
42Người hãy còn nói, kìa Giô-na-than, con trai thầy tế lễ A-bia-tha, chợt đến. A-đô-ni-gia nói với người rằng: Hãy vào, vì ngươi là một tay dõng sĩ, chắc ngươi đem những tin lành.
43І відказав Йонатан Адонїї: Правда! наш добродїй, царь Давид, зробив Соломона царем.
43Nhưng Giô-na-than đáp với A-đô-ni-gia rằng: Thật trái hẳn. Vua Đa-vít, chúa chúng ta, đã lập Sa-lô-môn làm vua.
44Царь післав з ним сьвященника Садока, пророка Натана, й Банею Йодаєнка з хелетеями й фелетеями, й посадили вони його на царського мула;
44Vua có sai thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, người Kê-rê-thít cùng người Phê-lê-thít đi theo người, và họ đã đỡ người lên cỡi con la của vua.
45І помазали його сьвященник Садок і пророк Натан в Гіонї на царя; і пійшли звідти з веселими сьпівами, і зворушився ввесь город. Ось звідки галас, що ви чули.
45Đoạn, tại Ghi-hôn, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than đã xức dầu cho người làm vua; họ đã từ đó trở lên cách reo mừng, và cả thành đều vang động. Đó là tiếng xôn xao mà các ông đã nghe.
46І Соломон засїв уже на царському престолї.
46Lại, Sa-lô-môn đã ngồi trên ngôi nước;
47І царські слуги приходили поздоровляти нашого добродїя, царя Давида й промовляли: Нехай твій Бог зробить імя Соломонове ще поважнїйшим як імя твоє, й престол його висчим над престол твій! І вклонився царь на свойму ложі,
47các tôi tớ của vua đến chúc phước cho vua Đa-vít, chúa chúng ta, mà tâu rằng: Nguyện Đức Chúa Trời của vua làm cho danh Sa-lô-môn tôn vinh hơn danh của vua, và khiến cho ngôi người cao trọng hơn ngôi của vua! Rồi vua cúi lạy nơi giường mình;
48І сказав царь так: Благословен Господь, Бог Ізрайлїв, що сьогоднї так учинив, що один з моїх засїв на мойму престолї й мої очі се бачять!
48và có nói như vầy: Đáng khen ngợi thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì ngày nay Ngài có ban một người để ngồi trên ngôi của tôi mà mắt tôi xem thấy.
49І вжахнулись усї, що їх закликав був Адонїя, повставали та й порозходились, кожний в свій бік.
49Bấy giờ, hết thảy các người dự tiệc với A-đô-ni-gia đều bắt sợ hãi, đứng dậy, ai đi đường nấy.
50Адонїю ж обняв страх перед Соломоном; він встав та й ухопився за роги в жертівника.
50A-đô-ni-gia cũng sợ Sa-lô-môn, đứng dậy, chạy nắm các sừng bàn thờ.
51І переказано Соломонові: Адонїя з великого страху перед царем Соломоном ухопив за роги жертівника та й каже: Царь Соломон мусить попереду заприсягти, що не велить раба свого стратити.
51Có người đến thuật cho Sa-lô-môn hay điều đó, rằng: Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua Sa-lô-môn; kìa người đã nắm các sừng bàn thờ, mà nói rằng: Hôm nay, vua Sa-lô-môn hãy thề với tôi rằng vua sẽ không giết đầy tớ người bằng gươm.
52І вирік Соломон присуд: Коли буде він себе показувати чоловіком чесним, то й волосина з його не впаде на землю; коли ж виявиться, що він чинить зло, мусить умерти.
52Sa-lô-môn đáp rằng: Nếu người ăn ở ra người tử tế, thì chẳng một sợi tóc nào của người sẽ rụng xuống đất; bằng có thấy sự ác nơi người, ắt người sẽ chết.
53От і взяли його посланцї царя Соломона від жертівника, а він, прийшовши, упав перед царем Соломоном ниць. І сказав йому Соломон: Ійди собі додому.
53Vua Sa-lô-môn sai kẻ đem người xuống khỏi bàn thờ. A-đô-ni-gia đến sấp mình xuống trước mặt Sa-lô-môn; Sa-lô-môn bèn nói với người rằng: Hãy trở về nhà ngươi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.