Плач
Chapter 1

Плач

Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Плач 1

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Як ся столиця седить одинока, — та, що була колись така многолюдна, стала, мов би вдовою; город, великий між народами, князь над краями, — платить нинї дань!
1Thành nầy xưa vốn đông dân lắm, kìa nay ngồi một mình! Xưa vốn làm lớn giữa các dân, nay như đàn bà góa! Xưa vốn làm nữ chủ các quận, nay phải nộp thuế khóa!
2Плаче гірко по ночах, сльози ллються по щоках; з усїх, що його любили, нема нїкого, хто б розважив; усї приятелї його зрадили його, стали ворогами.
2Nó khóc nức nở ban đêm, nước mắt tràn đôi má. Mọi kẻ yêu mến nó, chẳng ai yên ủi nó. Bạn bè nó phản nó, đều trở nên nghịch thù.
3Юда, втїкаючи від злиднїв та неволї тяжкої, поселився серед поган, та не знайшов впокою; всї, що його з давна гонили, спіймали його, наче б у тїсному заулку.
3Giu-đa đi làm phu tù, vì chịu nạn cùng chịu sai dịch nặng nề. ỳ đậu giữa các dân, chẳng được chút nghỉ ngơi. Những kẻ bắt bớ đuổi theo nó, theo kịp nó nơi eo hẹp.
4Посуміли дороги на Сион, бо перестали прочане ходити; всї брами його опустїли; сьвященники взітхають, дївчата горюють, — гірко й йому самому.
4Các đường lối Si-ôn đang thảm sầu, vì chẳng ai đến dự k” lễ trọng thể nữa. Mọi cửa thành hoang vu; các thầy tế lễ thở than; Các gái đồng trinh nó bị khốn nạn, chính nó phải chịu cay đắng.
5Вороги його взяли гору над ним; противники роскошують, бо Господь послав на його злиднї за премногі його провини; дїти його пійшли в неволю поперед ворога чамбулом.
5Kẻ đối địch nó trở nên đầu, kẻ thù nghịch nó được thạnh vượng; Vì Đức Giê-hô-va làm khốn khổ nó, bởi cớ tội lỗi nó nhiều lắm. Con nhỏ nó bị kẻ nghịch bắt điệu đi làm phu tù.
6Минулась у Сиону вся його величність; знатні в його — наче ті оленї, що не знаходять собі нїде паші; безсильні, пійшли навперід погоничів своїх.
6Con gái Si-ôn đã mất hết mọi sự làm cho mình vinh hoa. Các quan trưởng nó như nai chẳng tìm được đồng cỏ, Chạy trốn kiệt cả sức trước mặt kẻ đuổi theo.
7В злиднях своїх та в тїснотї своїй спогадав Ерусалим про всї дорогі добра свої, що їх мав тодї, як нарід його попав в руки ворожі, й нї в кого не знайшов підмоги; а вороги позирають на його та висьмівають і його суботи.
7Giê-ru-sa-lem, đang ngày khốn khổ lưu ly, nhớ xưa trải mọi mùi vui thích; Khi dân nó sa vào tay kẻ nghịch, chẳng ai đến cứu cùng. Quân thù xem thấy nó, chê cười nó hoang vu!
8Тяжко провинив Ерусалим, тим і зробився огидою людям; всї, що його славили, споглядають на його з погордою, бо побачили наготу його, а й сам він взітхає, та й одвертає, застидавшись, обличчє.
8Giê-ru-sa-lem phạm tội trọng, bởi đó trở nên sự ô uế. Mọi kẻ tôn kính đều khinh dể, vì thấy nó trần truồng. Nó tự mình thở than, trở lui.
9Гріх його, мов нечистота на платтї, явний, та він не подумав, що з того буде; тим то й упав він так низько, та й не має потїшителя. Зглянься ж ти, Боже, на мене у злиднях, бо ворог аж надто піднявся вгору!
9Váy nó dơ bẩn; nó chẳng nghĩ sự cuối cùng mình! Sự sa sút nó khác thường, chẳng ai yên ủi nó! Hỡi Đức Giê-hô-va, xin xem sự khốn nạn tôi, vì kẻ thù đã tự tôn mình làm lớn.
10Ворог простяг руку свою на все, що йому дороге було; він бачить, як погане втискаються в пресьвяте місце його; а ти ж (Господи,) заповідав, щоб вони не вступали в громаду твою.
10Kẻ thù đã giơ tay trên mọi vật tốt nó; Vì nó đã thấy các dân ngoại xông vào nơi thánh nó. Về dân ngoại ấy Ngài có truyền: chẳng được vào hội Ngài.
11Ввесь нарід взітхає за насущним хлїбом, віддає все дороге, щоб було чим посилити душу. О, зглянься, Господи, подивись, як я принижений.
11Cả dân nó vừa đi xin bánh, vừa thở than; Đổi hết sự vui lấy thức ăn, để tươi tỉnh linh hồn mình. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin đoái xem, vì tôi đã nên khinh hèn!
12О, нехай вас нїколи таке не спіткає, всї ви, що дорогою проходите мимо! Гляньте, придивіться, чи є біль такий, як мій біль, що на мене впав, що послав на мене Господь в день палаючого гнїву свого?
12Hỡi mọi người đi qua, há chẳng lấy làm quan hệ sao? Xét xem có sự buồn bực nào đọ được sự buồn bực đã làm cho ta, Mà Đức Giê-hô-va đã làm khốn cho ta nơi ngày Ngài nổi giận phừng phừng.
13Звисока послав він огонь у костї мої і той обгорнув їх; він розстелив сїтї під ноги менї й повалив мене; учинив мене бідним, та мучить мене день поза день.
13Ngài đã giáng lửa từ trên cao, vào xương cốt ta và thắng được. Ngài đã giăng lưới dưới chân ta, làm cho ta thối lui. Ngài đã làm cho ta nên đơn chiếc, hằng ngày bị hao mòn.
14Ярмо, зроблене з проступків моїх, в руцї в него; вони, неначе в шнур поскручувані, і заложені менї на шию; Господь обезсилив мене; віддав мене в руки, що з них годї менї добутись.
14Aùch của tội lỗi ta Ngài buộc tay vào, Cả bó chất nặng cổ ta, Ngài đã bẻ gãy sức mạnh ta. Chúa đã phó ta trong tay chúng nó, mà ta không chống cự được!
15Всїх хоробрих моїх повалив Господь посеред мене; скликав проти мене цїлу товпу, щоб вигубити молодиків моїх; неначе (грони) в тискарнї, зтоптав Господь дївицю-дочку Юдину.
15Chúa đã làm nên hư không lính chiến ở giữa ta. Ngài đã nhóm hội lớn nghịch cùng ta, đặng nghiền kẻ trai trẻ ta. Chúa đã giày đạp như trong bàn ép con gái đồng trinh của Giu-đa.
16От чого я плачу; око моє, — от чого око моє проливає води; далеко від мене втїшитель, що живив би духа в менї; дїти мої витрачені, бо ворог взяв гору.
16Vậy nên ta khóc lóc; mắt ta tuôn nước mắt; Vì kẻ yên ủi làm tỉnh hồn ta thì đã xa ta. Con cái ta bị đơn chiếc, vì kẻ thù đã thắng trận.
17Сион простягає руки свої та нема, хто б його розважив. Господь дав приказ проти Якова ворогам його, щоб його кругом обступили; Ерусалим стався гидотою посеред них.
17Si-ôn giơ tay, chẳng ai yên ủi nó; Đức Giê-hô-va đã truyền về Gia-cốp: những kẻ chung quanh nó nghịch cùng nó. Giê-ru-sa-lem ở giữa chúng nó như một sự ô uế.
18Справедливий Господь, бо я не корився його слову. О, слухайте, всї народи, погляньте на муку мою; дїви мої й молодики мої — всї вони пійшли в неволю!
18Đức Giê-hô-va là công bình, vì ta đã bạn nghịch cùng mạng Ngài. Hỡi các dân, xin hãy nghe hết thảy, hãy xem sự buồn bực ta! Gái đồng trinh và trai trẻ ta đã đi làm phu tù.
19Кличу другів моїх, та вони завели мене; сьвященники мої й старшина моя гинуть у містї, шукаючи харчі собі, щоб підкріпитись, свою душу (задержати в тїлї).
19Ta đã kêu gọi những kẻ yêu mến ta, nhưng họ lừa dối ta. Các thầy tế lễ và trưởng lão đã tắt hơi trong thành, Khi họ tim đồ ăn để tươi tỉnh linh hồn mình.
20Зглянься, Господи, бо я в тїснечі; внутро моє неспокійне, серце, неначе перевернулось у менї; я бо упрямо противився тобі; в полі забрав меч дїти мої, а дома — (голодова) смерть.
20Hỡi Đức Giê-hô-va, xin đoái xem, vì tôi gặp hoạn nạn; lòng tôi bối rối; Trái tim tôi chuyển động, vì tôi bạn nghịch lắm lắm! ỳ ngoài có gươm dao làm cho mất, trong nhà có sự tử vong.
21Почули, що я стогну, а нема, хто б мене розважив; почули всї вороги мої про мою недолю, та й утїшились, що ти се вчинив менї. О, коли б ти послав уже той день, що його заповів, і вони стали такими ж, як я!
21Người ta nghe tiếng tôi than thở, chẳng ai hề yên ủi. Mọi kẻ thù nghe tin tôi bị nạn, biết Ngài đã làm thì mừng rỡ. Ngày Ngài đã rao, Ngài sẽ khiến đến! chúng nó sẽ giống như tôi!
22О, постав перед лице своє усе зло їх; обійдись із ними оттак, як обійшовся зо мною за всї гріхи мої, я бо стогну безнастанно, й серце в менї завмірає!
22Nguyền cho mọi tội chúng nó bày ra trước mặt Ngài! Xin đãi chúng nó như đãi tôi bởi cớ mọi tội lỗi tôi; Vì tôi than thở nhiều, và lòng tôi mòn mỏi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.