Плач 4
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Як потемнїло те золото, змінилось золото найлїпше! каміннє з сьвятинї роскидане по всїх роздорожжях.
1Than ôi! vàng mờ tối, vàng ròng biến đổi dường nào! Đá nơi thánh đổ ra nơi mọi góc đường phố!
2Поважні синове Сионові, дорогі, як найчистїйше золото, — вони стали, як той посуд глиняний, як виріб рук ганчарських!
2Các con trai của Si-ôn quí báu khác nào vàng ròng, Nay coi như bình đất sét là việc của tay thợ gốm làm!
3І потвори подають соски, та кормлять щенят своїх, а дочки народу мого стали жорстокі, мов ті струсицї в пустинї;
3Chính các chó rừng còn đưa vú ra cho con nó đặng cho bú; Song con gái dân ta trở nên hung dữ như chim đà ở nơi đồng vắng.
4У немовлятка язик од згаги до піднебіння прилипає; їсти просять дїти, та нїхто їм не дає.
4Con mới đẻ khao khát lắm, lưỡi nó dính với cúa họng. Trẻ nhỏ đòi bánh chẳng ai bẻ cho.
5Хто їдав страви солодкі, умлїває з голоду по улицях, хто кохався на пурпурнім ложі, тулиться до гною.
5Những người quen nếm mùi cao lương đơn chiếc trong các đường phố; Những kẻ dưỡng nuôi trong đồ điều đỏ, nay ôm lấy đống phân tro.
6Кара за безбожність дочки народу мого більша над покараннє Содоми: її бо стручено в хвилинї й руки людські не дотикали її.
6Tội lỗi con gái dân ta lớn hơn tội lỗi Sô-đôm, Là thành bị đổ như trong giây phút, chẳng ai giơ tay ra trên nó.
7Сієї ж князї були над снїг чисті, над молоко білі; тїло в них було румяне, немов ті коралї, й над сапфир сияло;
7Các người sang trọng của nó tinh hơn tuyết, trắng hơn sữa. Nước da đỏ hồng hơn san hô, mình mẩy sáng ngời như bích ngọc.
8А нинї лице їх чорнїйше над усе чорне, не познають їх на улицї; кожа в них до костї прилипла, зосхла, мов та деревина.
8Nay mặt đen hơn than: chẳng ai nhận biết trong đường phố; Còn xương bọc lấy da; khô ran như khúc gỗ.
9Щасливійші ті, що від меча гинуть, нїж ті, що гинуть голодною смертю; сесї бо тануть поволи, побивані недостачею плодів земних.
9Những người bị gươm giết may hơn kẻ bị chết đói: Vì thiếu sản vật ngoài đồng, người lần lần hao mòn như bị đâm.
10Руки добросердних жінок варили дїток своїх, щоб мати з них їжу під час погибелї дочки народу мого.
10Chính tay người đàn bà vẫn có lòng thương xót, nấu chín con cái mình, Dùng làm đồ ăn cho mình giữa khi con gái dân ta bị phá hại.
11Ізогнав Господь гнїв свій, вилив досаду гнїву свого, й запалив огонь на Сионї, що пожер його до підвалин.
11Đức Giê-hô-va đã làm trọn sự giận của Ngài, đổ cơn thạnh nộ Ngài ra; Ngài đã đốt lửa tại Si-ôn, thiêu nuốt nền nó.
12Не вірили царі землї й усї осадники земель, що ворог завзятий ввійшов у ворота Ерусалимські.
12Các vua trên đất, cả dân cư thế gian, vốn chẳng ngờ Kẻ thù quân nghịch sẽ tràn vào các cửa thành Giê-ru-sa-lem.
13А все се за гріхи ложних пророків його, за беззаконства сьвященників його, що за їх приводом проливано кров праведників.
13Aáy là vì cớ tội lỗi của các tiên tri nó, và sự gian ác của các thầy tế lễ nó. Họ đã đổ giữa nó huyết của người công bình.
14Тепер вони, мов слїпі, улицями блукали, осквернювались кровю, так що не можна було приторкнутись до їх одежі.
14Họ đi quanh dọc đường như kẻ mù, bị máu làm ô uế, Đến nỗi không ai có thể rờ đến áo xống họ.
15Уступайтесь! Нечистий! у слїд їм кричали; уступайтесь, уступайтесь, не приторкайтесь! і вони, зворушені, ховались; а між людом говорили: Вже їх не буде!
15Người ta kêu bảo chúng rằng: Hãy xê ra, chẳng sạch. Hãy xê ra! xê ra! đừng rờ đến! Khi họ trốn tránh đi lưu lạc, dân ngoại kêu rằng: Chúng nó sẽ không trú ngụ ở đây nữa.
16(загнїване) Лице Господнє порозсїває їх; уже він не зглянеться на них, за те, що вони не вважали на сьвященників, над старими не милосердувались.
16Cơn giận Đức Giê-hô-va đã làm tan lạc chúng, Ngài chẳng đoái xem nữa. Chúng nó chẳng nể mặt thầy tế lễ, cũng chẳng kính người già cả.
17Наші ж очі аж умучились, визираючи надармо підмоги; з башти нашої визирали сторожі того народу, що не міг нас урятувати.
17Mắt chúng ta mòn mỏi trông sự cứu luống công! Chúng ta trông đợi hướng về một dân không thể cứu.
18А вони, знай, підглядали ступні наші, так що ми не могли безпечно й по улицях ходити. О, близько конець наш, днї наші скінчились; так, се прийшов конець наш.
18Chúng nó dòm ngó chân chúng ta, đến nỗi chúng ta không bước ra nơi đường phố. Sự cuối cùng chúng ta đã gần! Ngày chúng ta đã trọn! phải, sự cuối cùng chúng ta đã đến!
19Ті, що нас гнали, летїли хутше орлів під небом; гнались за нами по горах, ставляли засади в пустинї.
19Kẻ đuổi theo chúng ta thật lẹ hơn con chim ưng trên trời. Đuổi theo chúng ta trên các núi, rình rập chúng ta trong đồng vắng.
20Дух наш живущий, помазанник Господень, попав у їх яму, — той, що про його мовляли ми: Під його тїню жити мем тихо посеред народів.
20Hơi thở của mũi chúng ta, tức là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, thì đã mắc bẫy rồi, Về người, chúng ta thường nói rằng: Chúng ta nấp dưới bóng người mà sống giữa các nước.
21Радуйся, дочко Едомова, веселися, ти, що живеш там у землї Уз! прийде й до тебе чарка, і ти впєшся, й ти будеш обнажена.
21Hỡi con gái Ê-đôm, ở đất Uùt-xơ! Hãy vui mừng hớn hở, Cái chén cũng sẽ trao đến mầy, mầy sẽ say mê và trần truồng.
22Дочко Сионова! кара за беззаконства твої скінчилась; більш у полонь ти зайнята не будеш; твої ж провини, дочко Едомова, Господь навідає й виявить гріхи твої.
22Hỡi con gái Si-ôn, sự phạt tội lỗi mầy đã trọn, Ngài không đày mầy đi làm phu tù nữa! Hỡi con gái Ê-đôm, Ngài sẽ thăm phạt tội mầy; phô bày gian ác mầy!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.