Kanikau
Chapter 4

Kanikau

Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1NANI ka mae wale ana o ke gula! A me ke ano e ana o ke gula maikai! Ua hooleiia na pohaku o kahi hoano ma ke poo o na alanui a pau.
1Than ôi! vàng mờ tối, vàng ròng biến đổi dường nào! Đá nơi thánh đổ ra nơi mọi góc đường phố!
2O na keiki nani o Ziona i kau pu ia me ke gula maikai, Nani ko lakou manao like ia me na ipu lepo, Ka hana a na lima o ka potera!
2Các con trai của Si-ôn quí báu khác nào vàng ròng, Nay coi như bình đất sét là việc của tay thợ gốm làm!
3Unuhi ae no na ia nui i ka omaka waiu, A hanai waiu aku i ka lakou poe keiki: Aka, ua lokoino ke kaikamahine a ko'u poe kanaka, E like me na Iana o ka waonahele.
3Chính các chó rừng còn đưa vú ra cho con nó đặng cho bú; Song con gái dân ta trở nên hung dữ như chim đà ở nơi đồng vắng.
4Ua pipili ke alelo o ke keiki ai waiu i ke aluna o ka waha, no ka makewai; Nonoi aku na keiki i ka berena, Aohe mea nana e haawi aku na lakou.
4Con mới đẻ khao khát lắm, lưỡi nó dính với cúa họng. Trẻ nhỏ đòi bánh chẳng ai bẻ cho.
5O ka poe i ai i ka ai maikai, Ua wailana lakou ma na alanui, O ka poe hoi i aahuia i ka lole ula, Ua apo iho lakou i na puu lepo.
5Những người quen nếm mùi cao lương đơn chiếc trong các đường phố; Những kẻ dưỡng nuôi trong đồ điều đỏ, nay ôm lấy đống phân tro.
6Ua hooiia'ku ka hewa o ke kaikamahine a ko'u poe kanaka, Mamua o ka hewa o ko Sodoma, Ka mea i hookahuliia ma ke amo aua o ka maka, Aohe lima ikaika maluna ona,
6Tội lỗi con gái dân ta lớn hơn tội lỗi Sô-đôm, Là thành bị đổ như trong giây phút, chẳng ai giơ tay ra trên nó.
7Oi aku ka maemae o kona poe laa, mamua o ko ka hau, Oi aku ko lakou keokeo mamua o ka waiu, Oi aku ka ula o ke kino, i ko na pohaku ula, A like ko lakou helehelena me ko ka sapeiro.
7Các người sang trọng của nó tinh hơn tuyết, trắng hơn sữa. Nước da đỏ hồng hơn san hô, mình mẩy sáng ngời như bích ngọc.
8Ua oi aku ka eleelo o ko lakou helehelena i ko ka pouli, Aole lakou i ikeia ma na alanui; Ua pipili ko lakou ili i ko lakou mau iwi, Ua maloo, ua like hoi me ka laau.
8Nay mặt đen hơn than: chẳng ai nhận biết trong đường phố; Còn xương bọc lấy da; khô ran như khúc gỗ.
9Ua oi ka pomaikai o ka poe i make i ka pahikaua, mamua o ko ka poe i make i ka pololi: Hokii ae la keia poe, ua houia no ka hua ole o ka mahinaai.
9Những người bị gươm giết may hơn kẻ bị chết đói: Vì thiếu sản vật ngoài đồng, người lần lần hao mòn như bị đâm.
10O na lima o na wahine aloha, ua hoolapalapa lakou i ka lakou mau keiki iho; O lakou no ka lakou ai i ka make ana o ke kaikamahine a ko'u poe kanaka.
10Chính tay người đàn bà vẫn có lòng thương xót, nấu chín con cái mình, Dùng làm đồ ăn cho mình giữa khi con gái dân ta bị phá hại.
11Ua hooko mai o Iehova i kona huhu, Ua ninini mai oia i kona inaina nui; Ua hoa oia i ke ahi maloko o Ziona, A ua ai ia i kana mau kumu.
11Đức Giê-hô-va đã làm trọn sự giận của Ngài, đổ cơn thạnh nộ Ngài ra; Ngài đã đốt lửa tại Si-ôn, thiêu nuốt nền nó.
12Aole i hiki i na'lii o ka honua, a me ka poe a pau e noho la ma ke ao nei, ke manao, E komo mai ana ka enemi, a me ka mea huhu iloko o na pukapa o Ierusalema.
12Các vua trên đất, cả dân cư thế gian, vốn chẳng ngờ Kẻ thù quân nghịch sẽ tràn vào các cửa thành Giê-ru-sa-lem.
13No ka hewa o kona mau kaula, ka hala hoi o kona mau kahuna, Ka poe i hookahe i ke koko o ka poe pono iwaenakonu ona,
13Aáy là vì cớ tội lỗi của các tiên tri nó, và sự gian ác của các thầy tế lễ nó. Họ đã đổ giữa nó huyết của người công bình.
14Kuewa makapo aku lakou ma na alanui, Ua hoohaumia ia lakou iho i ko koko, Nolaila, aole hiki ke hoopa aku i ko lakou aahu.
14Họ đi quanh dọc đường như kẻ mù, bị máu làm ô uế, Đến nỗi không ai có thể rờ đến áo xống họ.
15Kahea mai la na kanaka ia lakou, E hele aku, ua haumia; E hele aku, e hele aku, mai hoopa aku; Ia lakou i holo ai, a kuewa aku, i ae la lakou iwaena o ko na aina e, Aole lakou e noho hou.
15Người ta kêu bảo chúng rằng: Hãy xê ra, chẳng sạch. Hãy xê ra! xê ra! đừng rờ đến! Khi họ trốn tránh đi lưu lạc, dân ngoại kêu rằng: Chúng nó sẽ không trú ngụ ở đây nữa.
16Na ka maka o Iehova i hoopuehu lakou; Aole ia e manao hou mai ia lakou; Aole lakou i manao i na maka o na kahuna, Aole i aloha i na lunakahiko.
16Cơn giận Đức Giê-hô-va đã làm tan lạc chúng, Ngài chẳng đoái xem nữa. Chúng nó chẳng nể mặt thầy tế lễ, cũng chẳng kính người già cả.
17A hiki mai i keia wa, ua maule ko makou mau maka, no ke kokua makehewa ia mai; I ko makou kakali ana, ua kakali makou i ka lahuikanaka hoola ole mai.
17Mắt chúng ta mòn mỏi trông sự cứu luống công! Chúng ta trông đợi hướng về một dân không thể cứu.
18Hoohalua lakou i ko makou hele ana, I ole ai makou e hele ma na alanui; Ua kokoke ko makou hope, ua piha ko makou mau la, no ka mea, ua hiki mai ko makou hope.
18Chúng nó dòm ngó chân chúng ta, đến nỗi chúng ta không bước ra nơi đường phố. Sự cuối cùng chúng ta đã gần! Ngày chúng ta đã trọn! phải, sự cuối cùng chúng ta đã đến!
19Ua oi ka mama o ka poe alualu mai ia makou mamua o ko na aeto o ka lani; Ma na mauna lakou i hahai mai ai ia makou, Hoohalua lakou ia makou ma ka waonahele.
19Kẻ đuổi theo chúng ta thật lẹ hơn con chim ưng trên trời. Đuổi theo chúng ta trên các núi, rình rập chúng ta trong đồng vắng.
20O ka hanu o ko makou mau pukaihu, o ka Iehova mea i poniia, Ua hoopioia oia iloko o ko lakou mau lua, Olelo no makou nona, Ma kona malu makou e ola'i iwaena o ko na aina e.
20Hơi thở của mũi chúng ta, tức là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, thì đã mắc bẫy rồi, Về người, chúng ta thường nói rằng: Chúng ta nấp dưới bóng người mà sống giữa các nước.
21E olioli, a e hauoli hoi, e ke kaikamahine o Edoma, Ka mea e noho la ma ka aina o Uza; E hiki aku no ke kiaha iou la, E inu ana no hoi oe, a e hemo no kou lole.
21Hỡi con gái Ê-đôm, ở đất Uùt-xơ! Hãy vui mừng hớn hở, Cái chén cũng sẽ trao đến mầy, mầy sẽ say mê và trần truồng.
22Ua pau kou hoopaiia, e ke kaikamahine o Ziona; Aole ia e lawe hou aku ia oe iloko o ke pio; E hoopai no oia i kou hewa, e ke kaikamahine o Edoma, E hoike aku no oia i kou mau hewa.
22Hỡi con gái Si-ôn, sự phạt tội lỗi mầy đã trọn, Ngài không đày mầy đi làm phu tù nữa! Hỡi con gái Ê-đôm, Ngài sẽ thăm phạt tội mầy; phô bày gian ác mầy!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.