Isaia 1
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1KA wanana a Isaia, ke keiki a Amosa, ka mea ana i ike ai no ka Iuda, a no ka Ierusalema, i na la o Uzia, a me Iotama, a me Ahaza, a me Hezekia, o na'lii o ka Iuda.
1Về đời Ô-xia, Giô-tham, A-cha và Ê-xê-chia, là các vua nước Giu-đa, thì Ê-sai, con trai A-mốt, có sự hiện thấy về nước Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem.
2E hoolohe, e na lani, e haliu mai hoi, e ka honua, No ka mea, o Iehova ka i olelo mai: Ua hanai au i na keiki, a ua malama hoi, Aka, ua kipi mai lakou ia'u.
2Hỡi các từng trời, hãy nghe; hỡi đất, hãy lắng tai; vì Đức Giê-hô-va có phán rằng: Ta đã nuôi nấng con cái, trưởng dưỡng chúng nó, song chúng nó dấy loạn nghịch cùng ta.
3Ua ike no ka bipi i kona haku, A o ka hoki hoi i kahi hanai o kona kahu: O ka Iseraela, aole ia i ike mai, Aole i malama ko'u poe kanaka.
3Bò biết chủ mình, lừa biết máng của chủ; song Y-sơ-ra-ên chẳng hiểu biết, dân ta chẳng suy nghĩ.
4Auwe ka lahuikanaka hewa! he poe kanaka kaumaha i ka hala, He hanauna hana ino, he poe hoohaumia: Ua haalele lakou ia Iehova, Ua hoowahawaha i ka Mea Hemolele o ka Iseraela; Ua hoi ihope lakou.
4Oâi! nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề, tông giống độc dữ, con cái làm bậy bạ kia! Chúng nó đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, khinh lờn Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, đã trở nên xa lạ và lui đi.
5Ma kahi hea oukou e hahau hou ia'i? A e kui hou aku anei oukou i ke kipi? Ua puni ke poo i ka mai, ua maule hoi ka naau a pau.
5Các ngươi sao còn cứ bạn nghịch, để lại bị đánh nữa? Đầu đều đau đớn cả, lòng đều mòn mỏi cả.
6Mai ka poli wawae, a hiki i ke poo, Aohe wahi ola maloko olaila: He palapu me ka ali, a me ka eha hou, Aole i hoopiliia, aole i paa i ka wahi, Aole i hooluoluia i ka aila.
6Từ bàn chân cho đến đỉnh đầu, chẳng có chỗ nào lành: rặt những vết thương, vít sưng cùng lằn mới, chưa rịt, chưa quấn, cũng chưa bôi dầu cho êm.
7Ua neoneo ko oukou aina, Ua puhiia ko oukou mau kulanakauhale i ke ahi: Ua pau ko oukou aina i na malihini ma ko oukou alo; Ua neoneo hoi, e like me kahi i anaiia e na malihini.
7Xứ các ngươi là nơi hoang vu, thành các ngươi bị lửa thiêu hủy; dân ngoại nuốt đất đai các ngươi trước mặt các ngươi, hoang vu như bị dân ngoại phá tán.
8Ke waiho wale la no ke kaikamahine o Ziona, Me he hale kamala la ma ka pawaina, Me he hale pupupu la iloko o ka pakaukama; E like hoi me ke kulanakauhale i hoopilikiaia i ke kaua.
8Con cái Si-ôn bị bỏ lại như lều vườn nho, như chòi ruộng dưa, như thành bị vây.
9Ina aole o Iehova o na kaua i waiho mai i koena uuku no kakou, Ina ua like kakou me Sodoma, Ina ua like no me Gomora.
9Ví bằng Đức Giê-hô-va vạn quân chẳng để chúng ta còn sót lại chút đỉnh, thì chúng ta sẽ giống thành Sô-đôm và như thành Gô-mô-rơ vậy!
10E hoolohe i ka olelo a Iehova, e na lunakanawai o Sodoma. E haliu mai hoi i ke kanawai o ko kakou Akua, e na kanaka o Gomora.
10Hỡi các quan trưởng Sô-đôm, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Hỡi dân Gô-mô-rơ, hãy để tai vào luật pháp của Đức Chúa Trời chúng ta!
11No ke aha ka oukou mohai nui ia'u? wahi a Iehova; Ua liliha au i na mohaikuni hipakane, A me ka momona o na mea i kupaluia; Aole o'u oluolu i ke koko o na bipi, a me na keikihipa, a me na kao.
11Đức Giê-hô-va phán: Muôn vàn của lễ các ngươi nào có can hệ gì đến ta? Ta đã chán chê của lễ thiêu bằng chiên đực và mỡ của bò con mập. Ta chẳng đẹp lòng về huyết của bò đực, chiên con và dê đực đâu.
12Ia oukou e hele mai ai, e hoike imua o'u, Nawai i imi i keia ma ko oukou lima, e hahi ma ko'u pahale?
12Khi các ngươi đến chầu trước mặt ta, ai khiến các ngươi giày đạp hành lang ta?
13Mai lawe hou mai i na mohai oiaio ole; O ka mea ala, ea, he mea hoopailua ia ia'u; O ka mahina hou, ka Sabati, a me ka aha i hoakoakoaia, Aole hiki ia'u ke hoomanawanui, He hewa no ia, o ia halawai ahaaina ana.
13Thôi, đừng dâng của lễ chay vô ích cho ta nữa! Ta gớm ghét mùi hương, ngày trăng mới, ngày sa-bát cùng sự rao nhóm hội; ta chẳng khứng chịu tội ác hội hiệp nơi lễ trọng thể.
14Ua ukiuki ko'u naau i ko oukou mau mahina hou, a me ko oukou halawai ana; He mau mea kaumaha ia ia'u, Ua luhi au i ka halihali ana.
14Thật, lòng ta ghét những ngày trăng mới và kỳ lễ các ngươi, là nặng nề cho ta, ta lấy làm mệt mà gánh lấy.
15Ia oukou e hohola mai ai i ko oukou mau lima, E huna no wau i ko'u mau maka ia oukou; A ia oukou e hoomahuahua i ka pule, aole au e hoolohe aku: No ka mea, ua piha ko oukou lima i ke koko.
15Vậy nên, khi các ngươi giơ tay, thì ta che mắt khỏi các ngươi. Khi các ngươi cầu nguyện rườn rà, ta chẳng thèm nghe. Tay các ngươi đầy những máu.
16E holoi oukou, e hoomaemae hoi; E waiho aku i ka oukou hana hewa ana, mai ko'u alo aku; Ua oki ka hana hewa ana;
16Hãy rửa đi, hãy làm cho sạch! Hãy tránh những việc ác khỏi trước mắt ta. Đừng làm dữ nữa.
17E ao i ka hana maikai, E imi i ka hoopono, E alakai pololei i ka mea i hookaumahaia; E hoopono i na keiki makua ole, E kokua i ka wahinekanemake.
17Hãy học làm lành, tìm kiếm sự công bình; hãy đỡ đần kẻ bị hà hiếp, làm công bình cho kẻ mồ côi, binh vực lẽ của người góa bụa.
18E hele mai hoi, e kike kakou, wahi a Iehova: Ina paha i like ko oukou hewa me na kapa ula, E keokeo auanei ia me he hau la; Ina paha i ula loa e like me ka mea ulaula, E like auanei ia me he hulu hipa la.
18Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên.
19Ina e ae mai oukou e hoolohe, E ai no oukou i ka maikai o ka aina.
19Nếu các ngươi sẵn lòng vâng lời, sẽ ăn được sản vật tốt nhất của đất.
20Aka, ina e hoole mai oukou, a e hoopaakiki, E pau auanei oukou i ka pahikaua; Na ka waha o Iehova i olelo mai.
20Nhược bằng các ngươi chẳng khứng và bạn nghịch, sẽ bị nuốt bởi gươm; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán.
21Auwe, ua lilo ke kulanakauhale pono i wahine moekolohe! I kela wa, piha no i ka hoopono, A noho no ka maikai maloko; I keia wa hoi, he poe pepehi kanaka,
21Oâi! thành trung nghĩa đã hóa ra kỵ nữ, nó vốn đầy sự chánh trực, và sự công bình ở trong nó, mà bây giờ đầy những kẻ giết người!
22Ua lilo kou kala i oka, Ua pai pu ia kou waina me ka wai.
22Bạc ngươi biến thành cặn, rượu ngươi pha lộn nước.
23He poe hookekee kou poe alii, He poe hoa no na aihue; Ua makemake lakou a pau i ka waiwai kipe, Ua imi no i ka ukuia mai; Aole lakou i hoopono i na keiki makua ole, Aole hoi i hiki imua o lakou ka mea hooponoia o ka wahinekanemake.
23Các quan trưởng của dân ngươi là đồ phản nghịch, làm bạn với kẻ trộm, mỗi người trong chúng đều ưa của hối lộ, đeo đuổi theo tài lợi; chẳng làm công bình cho kẻ mồ côi, vụ kiện của người góa bụa chẳng đến cùng chúng nó.
24Nolaila, ke i mai nei ka Haku, o Iehova o na kaua, Ka mea mana hoi o ka Iseraela, Auwe! E hoomaha au ia'u iho i ko'u poe enemi, E hoopai aku au i ka poe i inaina mai ia'u.
24Vậy nên, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, Đấng Quyền năng của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Oâi! ta sẽ được thỏa lòng về kẻ đối định ta, và báo trả kẻ cừu thù ta!
25E hoihoi aku au i ko'u lima maluna ou, E hoomaemae loa au i kou ino, E lawe aku hoi au i kou oka a pau.
25Ta sẽ lại tra tay trên ngươi, làm ta sạch hết cáu cặn ngươi, và bỏ hết chất pha của ngươi.
26E hoihoi hou no wau i kou mau lunakanawai, e like me ka wa i kinohi, A me kou poe kakaolelo, e like me ka wa kahiko; A mahope aku o keia, e kapaia oe, Ke kulanakauhale o ka pono, Ke kulanakauhale oiaio.
26Ta sẽ lập lại các quan xét của ngươi như ngày trước, các mưu sĩ của ngươi như lúc đầu. Rồi sau người ta sẽ xưng ngươi là thành công bình, là ấp trung nghĩa.
27E hoolaia no o Ziona i ka hoopono ana, A me kona poe pio hoi i ka hoopololei.
27Si-ôn sẽ được chuộc bởi sự chánh trực, còn kẻ nào trở lại đó thì được chuộc bởi sự công bình.
28E luku pu ia ka poe kipi a me ka poe hewa, A e hoopauia auanei ka poe haalele ia Iehova.
28Song những kẻ bạn nghịch và mắc tội sẽ cùng bị hủy diệt, còn kẻ bỏ Đức Giê-hô-va sẽ bị diệt vong.
29No ka mea, e hilahila auanei lakou i na laau oka a oukou I makemake ai, E hilahila no i na pakanu a oukou i koho ai.
29Vậy các ngươi sẽ hổ thẹn vì những cây thông mình ưa; mắc cỡ vì những vườn mình đã chọn.
30E like auanei oukou me ka laau oka i mae ka lau, E like hoi me ka pakanu wai ole.
30Vì các ngươi sẽ giống như cây thông khô lá, như vườn không nước.
31E lilo no ka mea ikaika, i huna olona, A o kana hana hoi, i huna ahi, E wela pu no ia mau mea elua, Aohe mea nana e kinai.
31Người mạnh sẽ như bã gai, việc làm của nó như đóm lửa; cả hai sẽ cùng nhau cháy, chẳng có ai giập tắt.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.