Isaia
Chapter 26
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A HIKI aku ia la, e oliia no keia oli ana, Ma ka aina o ka Iuda; He kulanakauhale paa ko makou; O ke ola no kana e hoonoho ai, i pa, i pakaua no hoi.
1Trong ngày đó, tại xứ Giu-đa, người ta sẽ hát bài nầy: Chúng ta có thành bền vững! Chúa lấy sự cứu làm tường làm lũy!
2E wehe i na pukapa, i komo iloko ka lahuikanaka pono, Ka poe hoi i malama i ka oiaio.
2Hãy mở các cửa, cho dân công bình trung tín vào đó!
3Ka mea i kupaa ka manao, E malama ana oe ia ia me ka malu loa, No ka mea, ua hilinai aku oia ia oe.
3Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài.
4E hilinai aku oukou ia Iehova a i ka manawa pau ole; No ka mea, ma ka Haku, ma o IEHOVA la ka hoomalu, a i ka manawa pau ole.
4Hãy nhờ cậy Đức Giê-hô-va đời đời, vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là vầng đá của các thời đại!
5No ka mea, ua hoohaahaa oia i ka poe i noho ma kahi kiekie; Ua hoohaahaa oia i ke kulanakauhale kiekie, Ua hoohaahaa oia ia ia ma ka honua, Ua hoopili oia ia wahi ilalo i ka lepo.
5Ngài đã dằn những người ở nơi cao; đã phá đổ thành cao ngất, hạ xuống tới đất, sa vào bụi bặm,
6E hahi ana no ka wawae maluna ona, O na wawae o ka poe i hune, a me na kapuwai o ka poe i nele.
6bị giày đạp dưới chân, bị bàn chân kẻ nghèo nàn, thiếu thốn bước lên trên và nghiền nát.
7O ka aoao o ka poe i pono, ua pololei ia. O oe ka mea pololei e hoopololei i ke ala o ka poe pono.
7Đường của người công bình là ngay thẳng; Ngài là Đấng ngay thẳng ban bằng đường của người công bình.
8Ma ke ala o kou mau kanawai, e Iehova, Ua hilinai aku makou ia oe, O ka makemake o ko makou naau, i kou inoa ia a me ka hoomanao aku ia oe.
8Hỡi Đức Giê-hô-va, thật chúng tôi đứng trên đường phán xét mà trông đợi Ngài; danh Ngài, là sự ghi nhớ Ngài, vốn là sự ao ước của linh hồn chúng tôi.
9Me ko'u naau au i makemake aku ai ia oe i ka po; He oiaio, ua imi aku au ia oe i kakahiaka me ko'u uhane iloko o'u; No ka mea, i ka wa e hooponopono ai oe ma ka honua, E ao no na kanaka o keia ao i ka pono.
9Đang ban đêm, linh hồn tôi đã ao ước Ngài; phải, thần linh trong tôi sẽ thiết tha tìm Ngài; vì khi những sự phán xét Ngài làm ra trên đất, dân cư của thế gian đều học sự công bình.
10E lokomaikaiia ka poe hewa, Aole nae ia e ao i ka pono; Ma ka aina o ka pololei, e hana kekee no ia, Aole hoi e manao aku i ka nani o Iehova.
10Kẻ ác dầu có được ơn, cũng chẳng học sự công bình; song nó sẽ làm điều ác trong đất ngay thẳng, và không nhìn xem uy nghiêm của Đức Giê-hô-va.
11Ua hapaiia kou lima, e Iehova, Aole nae lakou i nana; E ike no nae lakou me ka hilahila, I kou aloha nui i na kanaka ou, E oiaio no, e ai no ke ahi i kou poe enemi.
11Hỡi Đức Giê-hô-va, tay Ngài đã giá lên, mà chúng nó chẳng xem thấy, song chúng nó sẽ thấy, và sẽ xấu hổ bởi cớ lòng sốt sắng Ngài tỏ ra vì dân mình. Lửa sẽ đốt cháy kẻ thù nghịch Ngài.
12E Iehova, e haawi mai ana no oe i ka malu no makou; No ka mea, ua hana no oe i ka makou hana a pau no makou.
12Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ lập sự bình an cho chúng tôi; vì mọi điều chúng tôi làm, ấy là Ngài làm cho!
13E Iehova, ko makou Akua, Ua noho mai na haku e, i alii maluna o makou, aole oe; Aka, ia oe wale no a me kou inoa makou e hookaulana aku ai.
13Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, ngoài Ngài từng có chủ khác cai trị chúng tôi, nay chúng tôi chỉ cậy một mình Ngài mà kêu cầu danh Ngài.
14Ua make ia poe, aole lakou e ola; Ua nawaliwali lakou, aole lakou e ku hou mai: Nolaila oe i hoopai mai, a luku mai ia lakou, A ua hooki loa oe i ka manao ana ia lakou.
14Họ đã chết, sẽ không sống nữa, đã thành âm hồn không dậy nữa: vì Ngài đã phạt và diệt họ, cho đến sự ghi nhớ họ, Ngài cũng làm ra hư không.
15Ua hoomahuahua oe i ka lahuikanaka, e Iehova, Ua hoomahuahua oe i ka lahuikanaka, ua hoonaniia oe; Ua hoopalahalaha ae oe i na mokuna a pau o ka aina.
15Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã thêm dân nầy lên, phải, Ngài đã thêm dân nầy lên. Ngài đã được vinh hiển, đã mở mang bờ cõi đất nầy.
16E Iehova, maloko o ke kaumaha, ua imi aku lakou ia oe, I ka wa i hookaumaha ai oe ia lakou, nonoi ikaika loa aku lakou.
16Hỡi Đức Giê-hô-va, họ đã tìm kiếm Ngài trong lúc ngặt nghèo, kêu cầu Ngài khi Ngài sửa phạt họ.
17E like me ka wahine hapai, a kokoke mai kona manawa e hanau ai, Ua nui kona eha, a uwe iho oia no ke kuakoko ana; Pela no makou imua ou, e Iehova.
17Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng tôi ở trước mặt Ngài khác nào như đàn bà có thai gần đẻ, đang đau đớn kêu rêu vì quặn thắt.
18Ua hapai no makou, ua nahu kuakoko, Ua hanau hoi makou, he mea me he makani la; Aole i hanaia ka mea e ola'i ma ka aina, Aole hoi i haule na kanaka o keia ao.
18Chúng tôi đã có mang, đã ở cữ, và đẻ ra như gió, chẳng làm sự cứu trong trái đất, cũng chẳng sanh ra dân ở trong thế gian.
19E ola auanei kou poe i make, O ko'u poe i make, e ala mai no lakou: E ala mai, e oli oukou, e ka poe e noho ana ma ka lepo, No ka mea, o kou hau, o ka hau ia maluna o na mea ulu, E hoolei aku no ka aina i ka poe i make.
19Những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những xác chết của tôi đều chổi dậy! Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi.
20E hele mai, e ko'u poe kanaka, E komo oukou iloko o ko oukou keena malu, E pani hoi i ko oukou puka mahope o oukou; E huna ia oe iho no ka manawa uuku, A hala aku ka inaina.
20Hỡi dân ta, hãy đến vào buồng và đóng cửa lại. Hãy ẩn mình một lát, cho đến chừng nào cơn giận đã qua.
21No ka mea, aia hoi, o Iehova, ke puka mai la, mai kona wahi mai, E hoopai i ka hewa o na kanaka maluna o ka honua; A e hoike aku no ka honua i ke koko iloko ona, Aole e uhi hou i kona poe i pepehiia,
21Vì nầy, Đức Giê-hô-va từ nơi Ngài, đặng phạt dân cư trên đất vì tội ác họ. Bấy giờ đất sẽ tỏ bày huyết nó ra, và không che-đậy những kẻ đã bị giết nữa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.