Isaia 7
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I KE kau ia Ahaza, ke keiki a Iotama, ke keiki a Uzia, ke alii o ka Iuda, hele mai o Rezina, ke alii o Suria, a me Peka, ke keiki a Remalia, ke alii o ka Iseraela, e ku e ia Ierusalema, kaua mai, aole nae i hiki ia lakou ke lanakila maluna o ia wahi.
1Về đời A-cha, con trai Giô-tham, cháu Ô-xia, vua nước Giu-đa, xảy có Rê-xin, vua xứ Sy-ri, và Phê-ca, con trai Rê-ma-lia, vua Y-sơ-ra-ên, lên đánh thành Giê-ru-sa-lem; nhưng không thắng được.
2A haiia mai la i ko ka hale o Davida, i ka i ana mai, Ke hoomoana nei ko Suria maloko o ko Eperaima. Alaila, haalulu ka naau o ke alii, a me ka naau o kona poo kanaka, o like me ka haalulu ana o na laau o ka ululaau imua o ka makani.
2Có người báo tin đó cho nhà Đa-vít, mà rằng: Sy-ri kết minh cùng Eùp-ra-im. Bấy giờ A-cha và dân sự người trong lòng kinh động, như cây trên rừng bị gió day.
3I mai la o Iehova ia Isaia, O hele, ano, e halawai me Ahaza, o oe, a me Seariasuba, kau keiki, ma ka welau o ka auwai o ka waipuna luna, ma ke ala e hiki aku ai ke kula holoi lole;
3Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Ê-sai rằng: Ngươi cùng con trai ngươi là Sê-a-Gia-súp hãy đi đón A-cha tại nơi cuối cống ao trên, trên đường cái ruộng thợ nện,
4A e i aku oe ia ia, E ao oe, e noho malie; Mai makau hoi, mai maule kou naau, No na welowelo alua o keia mau momoku ahi, O ka huhu o Rezina, a me ko Suria, a me ko keiki a Remalia.
4mà nói cùng người rằng: Hãy cẩn thận, ở yên lặng; đừng sợ chi, lòng ngươi chớ bủn rủn vì cớ hai đuôi đuốc có khói, tức là vì cơn giận dữ của Rê-xin và Sy-ri, và của con trai Rê-ma-lia.
5No ka imi hala o ko Suria ia oe, A me Eperaima, a me ke keiki a Remalia, i ka i ana ae,
5Vì Sy-ri với Eùp-ra-im và con trai của Rê-ma-lia đồng mưu hại ngươi, nói rằng:
6E pii ku e kakou i ka Iuda, e hoopilikia aku hoi, A e mahele ia wahi no kakou, A e hoonoho i ke keiki a Tabeala, i alii maloko ona.
6Chúng ta hãy lên nghịch cùng Giu-đa, khuấy rối nó, phá thành và lập một vua giữa nó, tức là con trai của Ta-bê-ên.
7Ke i mai nei ka Haku, o Iehova penei, Aole e ku keia, aole ia e hanaia.
7Chúa là Đức Giê-hô-va phán như vầy: Sự hăm dọa ấy không thành, điều đó không xảy ra!
8O ke poo o Suria, o Damaseko ia, A o ke poo o Damaseko, o Rezina no; He kanaonokumamalima makahiki i koe, Alaila, kahuli o Eperaima, a lilo i aupuni ole.
8Vì đầu của Sy-ri là Đa-mách, đầu của Đa-mách là Rê-xin. Còn trong sáu mươi lăm năm, Eùp-ra-im sẽ bị hủy diệt, không được kể là dân nữa.
9O Samaria no ke poo o Eperaima, A o ke poo hoi o Samaria, oia ke keiki a Remalia. I ole oukou e manaoio i keia, aole oukou e malu.
9Đầu của Eùp-ra-im là Sa-ma-ri, đầu Sa-ma-ri là con trai của Rê-ma-lia. Nếu các ngươi không tin, chắc sẽ không đứng vững được.
10Olelo hou mai o Iehova ia Ahaza, i mai la,
10Đức Giê-hô-va lại phán cùng A-cha rằng:
11E nonoi oe i hoailona nou, mai Iehova, mai kou Akua mai; E nonoi ma ka hohonu, a ma kahi kiekie paha.
11Hãy xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi một điềm, hoặc dưới vực sâu, hoặc trên trời cao.
12I aku la o Ahaza, Aole au e nonoi, Aole hoi au e aa aku ia Iehova.
12A-cha thưa rằng: Tôi sẽ chẳng xin tôi cũng chẳng thử Đức Giê-hô-va.
13Alaila, i mai la ia, E hoolohe oukou, e ka ohana a Davida, He mea uuku anei ia oukou ke hoopaupauaho i kanaka? E hoopaupauaho pu anei oukou i ko'u Akua?
13Ê-sai bèn nói rằng: Hỡi nhà Đa-vít, hãy nghe! Các ngươi cho làm phiền người ta là nhỏ mọn, mà muốn làm phiền Đức Chúa Trời ta nữa sao?
14Nolaila, na ka Haku ponoi no e haawi mai ia oukou i hoailona; Aia hoi! e hapai ana no kekahi wahine puupaa, A e hanau mai hoi ia i keiki, A e kapa aku no oia i kona inoa, o IMANUELA.
14Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt tên là Em-ma-nu-ên.
15O ka waiu paa a me ka mele kana e ai ai, A ike oia i ka hoole i ka hewa, a e koho hoi i ka pono.
15Con trẻ ấy sẽ ăn mỡ sữa và mật, cho đến chừng nào biết bỏ điều dữ và chọn điều lành.
16No ka mea, mamua o ka ike ana o ke keiki e hoole i ka hewa, A e koho hoi i ka pono, E neoneo e no ka aina o ua mau alii la elua au e makau nei.
16Vả, trước khi con trẻ biết bỏ điều dữ chọn điều lành, thì nước của hai vua mà ngươi đang ghét sẽ bị bỏ hoang.
17Na Iehova no e hoopuka mai maluna ou, A maluna hoi o kou poe kanaka, A maluna o ka hale o kou makuakane, I na la i hiki ole mai ai mamua, Mai ka wa mai o ko Eperaima haalele ana i ka Iuda; I ke alii no Asuria.
17Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên ngươi, dân ngươi, và nhà cha ngươi, bởi vua A-si-ri, những ngày mà từ ngày Eùp-ra-im lìa bỏ Giu-đa chưa từng có giống như vậy.
18A hiki aku i kela la, Na Iehova no e pio aku i ka nalo, E noho ana ma na welau o na muliwai o Aigupita, A i ka nalo-hope-eha, ma ka aina o Asuria;
18Xảy ra trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ suýt mà gọi những ruồi ở cuối các sông Ê-díp-tô, và những ong ở xứ A-si-ri.
19A e hele mai hoi lakou, a e kau mai lakou a pau, Ma na kahawai olohelohe, a ma na lua o na pohaku, A ma ka nahele ooi a pau, A ma na kula holoholona a pau.
19Hai giống đó sẽ đến đậu trong các nơi trũng hoang loạn, trong các lỗ nẻ vầng đá, trên rào gai cùng các đồng cỏ.
20Ia la la, na ka Haku no e kahi, me ka pahi-kahi i hoolimalimaia, ma kela aoao o ka muliwai, Me ke alii hoi o Asuria, I ke poo, a me ke oho o na kapuwai; A e kahiia no hoi ka umiumi.
20Trong ngày đó Đức Giê-hô-va sẽ dùng dao cạo thuê tại bên kia sông, nghĩa là vua A-si-ri, mà cạo đầu cùng lông chân, và bỏ cả râu nữa.
21A hiki aku i kela la, E hanai no ke kanaka i ka bipi ohi, a me na hipa elua;
21Trong ngày đó mỗi người có thể nuôi một con bò cái tơ và hai con chiên,
22A no ka nui loa mai o ka waiu, E ai no ia i ka waiupaa; E ai io no i ka waiupaa a me ka meli, O ka poe a pau i koe ma ka aina.
22bởi nó có sữa dư dật thì người sẽ ăn mỡ sữa; vì phàm ai sẽ còn sót lại giữa xứ, thì nuôi mình bằng mỡ sữa và mật.
23A hiki aku i kela la, O kahi a pau i ulu ai na kumuwaina, he tausani, I kuaiia no na hapalua he tausani, E paapu ia wahi i ka nahele ooi, a me ka laau kalakala.
23Xảy ra trong ngày đó, phàm chỗ đất trồng được một ngàn gốc nho, đáng giá một ngàn siếc-lơ bạc, sẽ mọc đầy những gai gốc và chà chuôm.
24Me na pua a me na kakaka lakou e hele ai ilaila, No ka mea, e nahelehele ana no ka aina a pau, I ka laau kalakala a me ka nahele ooi.
24Người ta sẽ đem cung tên đến đó, vì cả xứ chỉ là gai gốc và chà chuôm. vậy.
25Ma na mauna a pau i olaolaoia i ka oo, Aohe mea hele ilaila, No ka makau i ka laau kalakala, a me ka nahele ooi: He wahi ia e hoouna aku ai i ka bipi, He wahi hoi e hahi ai na hipa.
25Cũng không ai đến trên các gò là nơi mình đã cày cuốc nữa, vì sợ gai gốc và chà chuôm, nhưng sẽ cho bò ăn cỏ tại đó, và chiên giày đạp.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.