Petero II. 1
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1O SIMON A Petero, he kauwa a he lunaolelo na Iesu Kristo, na ka poe i loaa pu ka manao oiaio i maikai like, ma ka pono o ko kakou Akua, a me Iesu Kristo ko kakou Hoola;
1Si-môn Phi-e-rơ, làm tôi tớ và sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những kẻ cậy sự công bình của Đức Chúa Trời chúng ta và của Cứu Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, đã lãnh phần đức tin đồng quí báu như của chúng tôi:
2E nui ko oukou alohaia mai, a me ka maluhia hoi, no ka ike pono ana i ke Akua, a me Iesu, ko kakou Haku;
2nguyền xin ân điển và sự bình an được gia thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta!
3E like me ka haawi ana mai o kona mana Akua i na mea a pau no kakou, e ola'i, a e haipule ai, ma ka ike ana aku i ka mea nana kakou i wae mai ma ka nani a me ka pono.
3Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính, khiến chúng ta biết Đấng lấy vinh hiển và nhân đức mà gọi chúng ta,
4Malaila no ua haiia mai na mea nui loa, e pomaikai nui ai; i mea e loaa ai ia oukou kekahi ano e like me ko ke Akua, no ka mea, ua haalele oukou i ka hewa iloko o ke ao nei, ma ke kuko.
4và bởi vinh hiển nhân đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bản tánh Đức Chúa Trời.
5Eia hoi kekahi, e hooikaika loa oukou, me ko oukou manaoio e kui aku ai i ka hana pono; a me ka hana pono, i ka naauao;
5Vậy nên, về phần anh em, phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức,
6A me ka naauao, i ka pakiko; a me ka pakiko, i ke ahonui; a me ke ahonui, i ka haipule;
6thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính,
7A me ka haipule, i ka launa hoahanau; a me ka launa hoahanau, i ke aloha.
7thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến.
8Ina iloko o oukou keia mau mea, a i mahuahua hoi, aole oukou e lilo i poe hoopalaleha, a i poe hua ole, ma ka ike aku i ko kakou Haku ia Iesu Kristo.
8Vì nếu các điều đó có đủ trong anh em và đầy dẫy nữa, thì ắt chẳng để cho anh em ở dưng hoặc không kết quả trong sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đâu.
9Aka, o ka mea i nele i keia mau mea, ua makapo ia, ua powehiwehi ka ike ana, a ua poina ia ia kona huikalaia ana i na hewa kahiko.
9Nhưng ai thiếu những điều đó, thì thành ra người cận thị, người mù; quên hẳn sự làm sạch tội mình ngày trước.
10Nolaila, ea, e na hoahanau, e hooikaika loa oukou, i hooiaioia ko oukou heaia mai, a me ko oukou kohoia ana; no ka mea, ina e hana oukou i keia mau mea, aole loa oukou e haule.
10Vậy, hỡi anh em, hãy chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình. Làm điều đó anh em sẽ không hề vấp ngã;
11Pela e hookomo lokomaikai ia'ku ai oukou iloko o ke aupuni mau loa o ko kakou Haku a Hoola hoi o Iesu Kristo.
11dường ấy, anh em sẽ được cho vào cách rộng rãi trong nước đời đời của Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa và Cứu Chúa của chúng ta.
12Nolaila, aole loa au hoomolowa i ka hoeueu i ko oukou manao i keia mau mea, ua ike no nae oukou, a ua ku paa ma keia mea oiaio.
12Bởi vậy cho nên, dầu anh em biết rõ ràng và chắc chắn trong lẽ thật hiện đây, tôi cũng sẽ nhắc lại những điều đó cho anh em chẳng thôi.
13Ke manao nei au, he mea pono i ko'u noho ana i keia halelewa, e hoala ia oukou me ka hoeueu aku i ka manao.
13Nhưng tôi còn ở trong nhà tạm nầy bao lâu, thì coi sự lấy lời răn bảo mà tỉnh thức anh em, là bổn phận của tôi vậy;
14No ka mea, ua ike au, ua kokoke no e hemo ia'u keia halelewa o'u, e like me ka ko kakou Haku o Iesu Kristo i hoike mai ai ia'u.
14vì tôi biết tôi phải vội lìa nhà tạm nầy, như Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đã bảo cho tôi.
15Aka hoi, e hooikaika mau wau, i hiki ia oukou, ke manao mau i keia mau mea mahope o kuu make ana.
15Nhưng tôi ân cần rằng sau khi tôi đi, anh em có thể hằng nhớ điều tôi đã nói.
16No ka mea, aole makou i hahai mamuli o na olelo wahahee i imi akamai ia, i ko makou hoike ana aku ia oukou i ka mana, a me ka hiki ana mai o ko kakou Haku o Iesu Kristo, aka, he poe ike maka makou i kona nani.
16Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài.
17No ka mea, mai ke Akua ka Makua mai, i loaa mai ai ia ia ka hoomaikai, a me ka hoonani, i ka wa i hiki mai ai ka leo io na la, mai ka nani kupanaha loa mai; Eia kuu keiki hiwahiwa, ua olioli loa au ia ia.
17Vì Ngài đã nhận lãnh sự tôn trọng vinh hiển từ nơi Đức Chúa Trời, Cha Ngài, khi Đấng tôn nghiêm rất cao phán cùng Ngài rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường.”
18O keia leo, mai ka lani mai, oia ka makou i lohe ai, i ka wa a makou i noho pu ai me ia, ma ka mauna hoano.
18Chính chúng tôi cũng từng nghe tiếng ấy đến từ trời, lúc chúng tôi ở với Ngài trên hòn núi thánh.
19Eia hoi ia kakou ka na kaula olelo, i hooiaio loa ia; ua hana pono no hoi oukou i ko oukou malama ana ia mea, me he kukui la, e hoomalamalama ana i kahi pouli, a wehe mai ke alaula, a puka mai ka hokuao iloko o ko oukou mau naau;
19Nhân đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn, anh em nên chú ý lời đó, như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em.
20Me ka ike mua i keia, o kela wanana keia wanana o ka palapala hemolele, aole na na kaula ponoi iho ka hoike ana.
20Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được.
21No ka mea, i ka wa kahiko, aole no ka mauao o kanaka, ka na kaula; aka, ua olelo mai na kanaka hemolele o ke Akua i ka uluhia mai e ka Uhane Hemolele.
21Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.