Roma
Chapter 1
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1NA Paulo, na ke kauwa a Iesu Kristo i waeia i lunaolelo, a i hookaa waleia hoi no ka euanelio a ke Akua,
1Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời, -
2Ana i hoike e mai ai mamua ma kana poe kaula, maloko o na palapala hemolele,
2là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh,
3No kana Keiki Iesu Kristo ko kakou Haku, i hoohanauia na ka hua a Davida, ma ke kino,
3về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra,
4A i hoomaopopoia hoi o ke Keiki a ke Akua me ka mana, ma ka uhane hoano, mahope o ke alahouana mai waena mai o ka poe make;
4theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta,
5Ma ona la i loaa mai ai ia makou ke aloha, a me ka lunaolelo ana, no ka malama ana o ka manaoio iwaena o na lahuikanaka a pau no kona inoa;
5nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài,
6Iwaena o lakou no hoi oukou na mea i waeia no Iesu Kristo:
6trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ; -
7I ka poe a pau ma Roma, i alohaia e ke Akua, i waeia hoi i mau haipule; no oukou hoi ke aloha a me ka pomaikai, mai ke Akua mai, o ko kakou Makua, a mai ka Haku mai hoi, o Iesu Kristo.
7gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ. Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ!
8O ka mua, ke hoomaikai aku nei au i ke Akua, ma o Iesu Kristo la no oukou a pau, no ka mea, ua hookaulanaia ko oukou manaoio, ma ka honua a pau.
8Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian.
9O ke Akua, o ka'u mea e malama nei me kuu uhane ma ka olelo maikai no kana Keiki, oia ka mea ike no'u, i ko'u hoomanao mau ana ia oukou, ma ka'u pule,
9Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi
10E noi mau ana, ina e hiki i kekahi manawa, i keia wa aku nei paha, e hele pomaikai aku wau me ka ae ana mai o ke Akua, a hiki io oukou la.
10trong mọi khi tôi cầu nguyện, thường xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, sau lại có thể gặp dịp tiện đi đến nơi anh em.
11No ka mea, ke ake nei au e ike aku ia oukou, e haawi aku au i kekahi pono ma ka uhane no oukou, i hookupaaia'i oukou.
11Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng sự ban cho thiêng liêng cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng,
12Eia kekahi, e hooluoluia mai hoi au iwaena o oukou, ma ka manao lokahi ana o oukou a me au.
12tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi.
13Eia hoi, aole o'u makemake e ike ole oukou, e na hoahanau, i kuu manao pinepine ana e hele io oukou la, (aka, ua kaohiia a hiki i keia wa,) i loaa mai hoi ia'u kekahi hua mawaena o oukou, e like me ia mawaena o na lahuikanaka e.
13Vả, hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng đã ghe phen tôi toan đi thăm anh em, đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác; song về sự đó tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ.
14He aie au na ka poe Helene a me na kanaka hemahema; na ka poe i aoia, a me ka poe i ao ole ia.
14Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người dã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt.
15Pela hoi, ma ka mea hiki ia'u, ua makaukau wau e hai aku i ka euanelio ia oukou no hoi ma Roma.
15Aáy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin Lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma.
16No ka mea, aole au i hilahila i ka euanelio no Kristo; no ka mea, o ko ke Akua mana ia e ola'i, no kela mea, no keia mea manaoio; no ka Iudaio mua, a no ka Helene hoi.
16Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc;
17No ka mea, ua hoikeia mai ilaila ko ke Akua hoapono ana mai ma ka manaoio, a i manaoio; e like me ka mea i palapalaia, O ka mea pono, ma ka manaoio, e ola ia.
17vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.
18A ua hoikeia mai no hoi ka inaina o ke Akua, mai ka lani mai, i ka aia, a me ka haua ino a pau a na kanaka, i keakea me ka haua hewa, i ka olelo oiaio.
18Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật.
19No ka mea, o ka mea o hiki ke ikeia no ke Akua, ua akaka ia ia lakou; no ka mea, ua hoakaka mai no ke Akua ia mea ia lakou.
19Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi,
20No ka mea, o kona mau mea i nana ole ia, mai ka hana ana mai o ke ao nei, ua maopopo lea ua mau mea la, oia o kona mana mau a me kona Akua ana, ma na mea i hanaia; nolaila aole o lakou mea e hoaponoia'i:
20bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được,
21No ka mea, i ka wa i ike ai lakou i ke Akua, aole lakou i hoonani aku ia ia i Akua, aole hoi i aloha aku; aka, ua lapuwale lakou i ko lakou manao ana, a ua hoopouliia hoi ko lakou naau hawawa.
21vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm.
22I ko lakou hoakamai ana, lilo lakou i poe naaupo,
22Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại;
23A hoololi aku lakou i ka nani o ke Akua make ole, i kii e like me ke kanaka make, a me na manu, a me na holoholona wawae eha, a me na mea kolo.
23họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng.
24Nolaila hoi, kuu iho la ke Akua ia lakou ma na kuko hewa o ko lakou mau uaau, i paumaele, e hoinoino ai i ko lakou mau kino iho, ia lakou lakou.
24Cho nên Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm nhục thân thể mình nữa,
25Haalele aku la lakou i ke Akua oiaio, no ka mea apaapa, a hoomana aku la lakou, a malama hoi i ka mea i hanaia, aole i ka Mea nana i hana, oia ka mea hoomaikai mau loa ia. Amene.
25vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men.
26No ia mea, kuu iho la ke Akua ia lakou i na kuko ino; no ka mea, ua hoololi ae ko lakou poe wahine i ka aoao maoli i ka mea ku e i ka aoao maoli.
26Aáy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên.
27Pela no hoi na kane, i haalele ai i ka aoao maoli o ka wahine, a ua wela i ke kuko hewa i kekahi i kekahi; na kane me na kane, e hana ana i ka mea hilahila, a e loaa ana iloko o lakou ka uka pono no ko lakou lalau ana.
27Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình.
28A no ko lakou makemake ole e hoopaa i ke Akua ma ko lakou ike, kuu iho la ke Akua ia lakou i ka naau hewa, e hana aku lakou i na mea ku ole i ka pono:
28Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng.
29Ua piha lakou i na hewa a pau, i ka moe kolohe, i ka opuinoino, i ka puniwaiwai, a mo ka hana ino; ua paapu hoi i ka huahuwa, i ka pepehi kanaka, i ka hakaka, i ka hoopunipuni, a me ka manao ino:
29Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ;
30He poe aki, he poe olelo hoohewa wale, he poe inaina i ke Akua, he poe kuamuamu, he haaheo, he haanui, he poe imi i na mea ino, he poe malama ole i na makua,
30hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ;
31He poe hoohemahema, he poe lawehala i na mea i hoohikiia, he poe aloha ole, he poe makoua, he poe lokoino.
31dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót.
32Ua ike lakou i ke kanawai o ke Akua, o ka poe o hana pela, he pono lakou e make, a ke hana nei no lakou ia mau mea, a ua mahalo no hoi i ka poe e hana ana malaila.
32Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.