Roma 4
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA, heaha la ka kakou mea e olelo ai, ua loaa ia Aberahama ko kakou makua ma ke kino?
1Vậy, chúng ta sẽ nói Aùp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, theo xác thịt đã được ích gì?
2A, ina ua hoaponoia mai o Aberahama ma na hana, he mea kana e kaena ai, aole nae imua o ke Akua.
2Thật thế, nếu Aùp-ra-ham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì có cớ khoe mình; nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy.
3Heaha ka mea a ka palapala hemolele i olelo mai ai? Ua manaoio o Aberahama i ko Akua, a ua hooliloia hoi ia i pono nona.
3Vì Kinh Thánh có dạy chi? Aùp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người.
4A o ka mea e hana ana, aole i manaoia kona uku no ka lokomaikai ia, aka, no ka aie.
4Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ,
5Aka, o ka mea hana ole, a i manaoio aku i ka mea nana e hoapono mai i ka mea pono ole, ua hooliloia mai kona manaoio i pono nona.
5còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình.
6Pela no hoi o Davida i olelo mai ai i ka pomaikai ana o ke kanaka, ia ia ko ke Akua hoolilo ana i ka pono me ka hana ole;
6Aáy vậy, vua Đa-vít cũng tỏ ra cái phước của người mà Đức Chúa Trời kể cho là công bình chẳng bởi việc làm, mà rằng:
7Pomaikai ka poe i kalaia ko lakou hala, a i uhiia ko lakou hewa:
7Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, Tội mình được che đậy!
8Pomaikai ke kanaka ke hoopili ole ka Haku i ka hewa ia ia.
8Phước thay cho người mà Chúa chẳng kể tội lỗi cho!
9Maluna o ka poe i okipoepoeia wale no anei keia pomaikai? A maluna anei o ka poe okipoepoe ole ia kekahi? No ka mea, ke olelo nei makou, ua hooliloia ka manaoio i pono no Aberahama.
9Vậy, lời luận về phước đó chỉ chuyên về kẻ chịu cắt bì mà thôi sao? Cũng cho kẻ không chịu cắt bì nữa. Vả, chúng ta nói rằng đức tin của Aùp-ra-ham được kể là công bình cho người.
10Ihea la ia i hooliloia'i? I kona noho okipoepoeia anei? a i kona noho okipoepoe ole ia anei? Aole i kona noho okipoepoeia, aka, i kona noho okipoepoe ole ia.
10Nhưng được kể thế nào? Khi người đã chịu cắt bì rồi, hay là khi người chưa chịu cắt bì? Aáy không phải sau khi người chịu cắt bì, bèn là trước.
11A ua loaa ia ia ke okipoepoeia i hoailona no ka pono o kona manaoio ana i kona wa i okipoepoe ole ia'i; i lilo ai oia i makua no ka poe a pau e manaoio ana me ke okipoepoe ole ia, i hooliloia'i ka pono ia lakou;
11Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình,
12A i makua no ka poe i okipoepoeia kekahi, aole ka poe i okipoepoe wale ia no, aka, o hele ana hoi ma na kapuwai o ko kakou makua o Aberahama i kona noho okipoepoe ole ia.
12và cũng làm cha những kẻ chịu cắt bì, tức là cha những kẻ không những chịu cắt bì thôi, lại cũng noi theo dấu đức tin mà Aùp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã có trước khi chưa chịu cắt bì vậy...
13No ka mea, o ka olelo mai ia Aberahama a i kana mamo, e lilo ia i hooilina no ke ao nei, aole ia ma ke kanawai, aka, ma ka pono o ka manaoio.
13Vả, ấy chẳng phải bởi luật pháp mà có lời hứa cho Aùp-ra-ham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm gia nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin.
14No ka mea, ina i lilo ka poe ma ke kanawai i poe hooilina, ina ua lilo ka manaoio i mea ole, a ua ole no hoi ka mea i oleloia mai:
14Vì, nếu bởi luật pháp mà được hưởng gia nghiệp, thì đức tin ra vô ích, lời hứa cũng bỏ rồi,
15No ka mea, o ke kanawai ke kumu o ka inaina; no ka mea, ma kahi kanawai ole, aole he ae ana maluna.
15vì luật pháp sanh ra sự giận; song đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp.
16Nolaila, ma ka manaoio ia, i haawi lokomaikai ia mai ia; i oiaio ai ka olelo hoopomaikai na ka poe mamo a pau, aole na na mea ma ke kanawai wale no, aka, na na mea hoi ma ka manaoio o Aberahama; oia ka makua o kakou a pau,
16Vậy nên, bởi đức tin mà người ta trở nên kẻ ăn gia tài, hầu cho sự ấy được bởi ân điển, và cho lời hứa được chắc chắn cho cả dòng dõi Aùp-ra-ham, chẳng những cho dòng dõi dưới quyền luật pháp, mà cũng cho dòng dõi có đức tin của Aùp-ra-ham, là tổ phụ hết thảy chúng ta,
17(E like me ka mea i palapalaia, Ua hoolilo au ia oe i makua no na lahuikanaka he nui no,) imua o ke alo o ke Akua ana i manaoio ai, ka mea i haawi i ke ola no ka poe make, a i olelo hoi i na mea i hana ole ia, me he mau mea la i hanaia.
17y như lời chép rằng: Ta đã lập ngươi làm cha nhiều dân tộc, thật người là cha chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, tức là Đấng người đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi.
18Oia ka mea, imua o ka manaolana, i paulele ai me ka manaolana, e lilo ia i makua no na lahuikanaka he nui no; e like me ka mea i oleloia, Pela no kau poe mamo.
18Người cậy trông khi chẳng còn lẽ trông cậy, cứ tin, và trở nên cha của nhiều dân tộc, theo lời đã phán cho người rằng: Dòng dõi ngươi sẽ như thể ấy.
19A i kona nawaliwali ole ana ma ka manaoio, aole ia i manao i kona kino iho me he mea make la, i kona kokoke ana i ka haneri o kona mau makahiki, aole hoi i ka make o ka opu o Sara:
19Người thấy thân thể mình hao mòn, vì đã gần đầy trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sanh đẻ được nữa, song đức tin chẳng kém.
20Aole hoi ia i kanalua i ka olelo ana mai a ke Akua, ma ka hoomaloka; aka, ua ikaika ia ma ka manaoio, e hoonani ana i ke Akua;
20Người chẳng có lưỡng lự hoặc hồ nghi về lời hứa Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, và ngợi khen Đức Chúa Trời,
21A ua maopopo lea kona manao e hiki no ia ia ke hooko mai i ka mea ana i olelo mai ai.
21vì tin chắc rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được.
22No ia mea, ua hooliloia ia i pono nona.
22Cho nên đức tin của người được kể cho là công bình.
23Aole nona wale no i palapalaia'i, ua hooliloia ia nona:
23Vả, ấy chẳng phải chỉ vì một mình người mà có chép rằng đức tin người đã được kể cho là công bình,
24Aka, no kakou kekahi, ka poe e hooliloia mai ai ia, ka poe e manao ana i ka mea nana i hoala mai ia Iesu ko kakou Haku mai waena mai o ka poe make,
24nhưng cũng vì chúng ta nữa, đức tin sẽ được kể là công bình cho chúng ta, là kẻ tin Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ trong kẻ chết,
25Ka mea i haawiia no ko kakou hewa, a ua hoala hou ia mai i hoapanoia'i kakou.
25Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.