Iuda 1
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1NA Iuda he kauwa na Iesu Kristo, o ke kaikaina hoi o Iakobo, i ka poe i huikalaia e ke Akua ka Makua, a i malamaia hoi e Iesu Kristo, me ka heaia mai;
1Giu-đe, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ và em Gia-cơ, đạt cho những kẻ đã được kêu gọi, được Đức Chúa Trời, là Cha yêu thương, và được Đức Chúa Jêsus Christ giữ gìn:
2I nui ko oukou lokomaikaiia mai, a me ka maluhia, a me ke alohaia mai.
2nguyền xin sự thương xót, bình an, yêu mến thêm lên cho anh em!
3E na punahele, i ka wa a'u i hooikaika ai e palapala aku ia oukou i ke ola nui, he mea pono ia'u ke palapala aku me ka nonoi ia oukou, e hooikaika nui oukou no ka manaoio i haawi mua ia mai na ka poe haipule.
3Hỡi kẻ rất yêu dấu, vì tôi đã ân cần viết cho anh em về sự cứu rỗi chung của chúng ta, tôi tưởng phải làm điều đó, để khuyên anh em vì đạo mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi.
4No ka mea, ua komo maopopo ole mai kekahi poe kanaka i hoohewa mua ia mai ma keia hoopai ana, he poe aia, e hoolilo ana i ke aloha o ko kakou Akua i mea makaleho wale: a e hoole aku ana hoi i ke Akua i ke alii hookahi, i ko kakou Haku ia Iesu Kristo.
4Vì có mấy kẻ kia lẻn vào trong vòng chúng ta là những kẻ bị định đoán phạt từ lâu rồi, kẻ chẳng tin kính đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác, chối Đấng Chủ tể và Chúa có một của chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ.
5Ua makemake au e paipai i ko oukou manao; ua ike no oukou mamua, ua hoola mai ka Haku i kona poe kanaka mai ka aina mai o Aigupita, a mahope hoi luku iho la ia i ka poe manaoio ole aku.
5Dầu Anh em đã học những điều nầy rồi, tôi cũng muốn nhắc lại cho anh em rằng, xưa kia Chúa giải cứu dân mình ra khỏi xứ Ê-díp-tô, sau lại tiêu diệt những kẻ không tin;
6O ka poe anela i hoomau ole ma ko lakou ano kahiko, aka, i haalele i ko lakou wahi i noho ai, ua hoana e oia ia lakou iloko o na kaulahao mau loa ma ka pouli, no ka hookolokolo ana o ka la nui.
6còn các thiên sứ không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình thì Ngài đã dùng dây xích họ trong nơi tối tăm đời đời, cầm giữ lại để chờ sự phán xét ngày lớn.
7E like me ko Sodoma poe a me ko Gomora hoi, a me ko na kulanakauhale e kokoke aku ana, i lilo like me lakou nei i poe moe kolohe, me ka hahai aku mamuli o na kino e, ua hooliloia mai no lakou i mea hoike, e ehaeha ana i ka hoopaiia ma ke ahi aa mau loa.
7Lại như thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ cùng các thành lân cận cũng buông theo sự dâm dục và sắc lạ, thì đã chịu hình phạt bằng lửa đời đời, làm gương để trước mặt chúng ta.
8Pela no hoi keia poe moe uhane, ua hoohaumia lakou la i ke kino, ua hoowahawaha aku i na'lii, a ua hailiili aku hoi i na lunakiekie.
8Nhưng mà chúng nó cũng như vậy, trong giấc mơ màng làm ô uế xác thịt mình, khinh dể quyền phép rất cao và nói hỗn các đấng tôn trọng.
9Aka hoi, o Mikaela ka luna anela, i kona wa i hakaka ai me ka diabolo me ka hoopaapaa ana aku no ke kino o Mose, aole ia i aa e hailiili aku ia ia, aka, i olelo wale no ia, E papa mai ka Haku ia oe.
9Vả, khi chính mình thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỉ giành xác Môi-se, còn chẳng dám lấy lời nhiếc móc mà đoán phạt; người chỉ nói rằng: Cầu Chúa phạt ngươi!
10Aka, ke hoowahawaha nei keia poe i ka mea aole lakou i ike; a o ka lakou mea hoi i ike maoli ai e like me na holoholona uhane ole, malaila no e hoohaumia ai lakou ia lakou iho.
10Song những kẻ nầy, hễ đều gì không biết thì khinh dể hết; và mọi điều chúng nó tự nhiên mà biết cũng như con thú vật vô tri, thì dùng mà làm hư mình.
11Auwe lakou! no ka mea, ua hahai lakou ma ka aoao o Kaina, ua holo kiki lakou ma ka lalau ana o Balaama i mea e ukuia'i, ua hokaiia iho la lakou ma ke kipi ana ae o Kora.
11Khốn nạn thay cho chúng nó, vì đã theo đường của Ca-in, lấy lòng tham lợi mà gieo mình vào sự sai lạc của Ba-la-am; và bị hư mất về sự phản nghịch của Cô-rê.
12He mau pukoa ia mau mea ma ka oukou mau ahaaina aloha, ua ahaaina hilahila ole lakou me ka hanai ana ia lakou iho: he mau ao ua ole i lele ino i ka makani; he mau laau i mae wale, hua ole, i palua ka make ana, a i hukiia ke aa;
12Những kẻ đó là dấu vít trong đám tiệc anh em, như người chăn chiên chỉ tưởng nuôi mình cho no nê, không lo sợ gì; như đám mây không nước, theo gió đưa đi đây đi đó, như cây tàn mùa thu, không có trái, hai lần chết, trốc lên bựt rễ;
13He mau ale o ke kai i kupikipikio, ke huahuai ae la i ko lakou hilahila iho: na hoku lele hoi; ua hoomakaukauia no lakou ka poeleele o ka pouli mau loa.
13như sóng cuồng dưới biển, sôi bọt ô uế của mình; như sao đi lạc, sự tối tăm mù mịt đã dành cho chúng nó đời đời!
14Wanana mai no o Enoka ia mau mea, o ka hiku ia mai Adamu mai, i mai la, Eia hoi, e holo mai ana ka Haku me ka umi tausani o kona poe hoano,
14Aáy cũng vì họ mà Hê-nóc, là tổ bảy đời kể từ A-đam, đã nói tiên tri rằng:
15E hookolokolo mai i na mea a pau, a e hoahewa mai i ka poe aia a pau iwaena o lakou i na hewa a pau a lakou i hana hewa'i, a me na olelo paakiki a pau a ka poe hewa i olelo ino aku ai ia ia.
15Nầy, Chúa ngự đến với muôn vàn thánh, đặng phán xét mọi người, đặng trách hết thảy những người không tin kính về mọi việc không tin kính họ đã phạm, cùng mọi lời sỉ hổ mà những kẻ có tội không tin kính đó đã nói nghịch cùng Ngài.
16Oia ka poe ohumu, oluolu ole, e hele ana ma ko lakou kuko iho: haanui iho la ko lakou waha me ka olelo hookano aku, mahalo ae la hoi i ko ke kino no ka ukuia mai.
16Aáy đều là những kẻ hay lằm bằm, hay phàn nàn luôn về số phận mình, làm theo sự ham muốn mình, miệng đầy những lời kiêu căng, và vì lợi mà nịnh hót người ta.
17E na hoalauna, e hoomanao oukou i ka olelo i olelo mua ia mai ai e ka poe lunaolelo o ko kakou Haku o Iesu Kristo;
17Nhưng anh em, là kẻ rất yêu dấu, hãy nhớ lấy những lời mà các sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đã nói trước.
18I ko lakou hai ana mai ia oukou, i ka hope o ka manawa, e hiki mai ai ka poe haakei e hele ana ma ko lakou kuko aia iho.
18Các sứ đồ đó nói với anh em rằng, trong các thời k” sau rốt, sẽ có mấy người hay nhạo báng làm theo lòng ham muốn không tin kính của mình.
19Eia ka poe i hookaawale ae ia lakou iho, ma ke kino lakou, aole ma ka Uhane.
19Aáy chính chúng nó là kẻ gây nên phe đảng, thuộc về tánh xác thịt, không có Đức Thánh Linh.
20A o oukou la, e na hoaaloha, e hookupaa ia oukou iho ma ko oukou manaoio hemolele loa, e pule aku ana ma ka Uhane Hemolele;
20Hỡi kẻ rất yêu dấu, về phần anh em, hãy tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình, và nhân Đức Thánh Linh mà cầu nguyện,
21E malama ia oukou iho ma ke aloha o ke Akua, e kakali koi i ke aloha ana mai o ko kakou Haku o Iesu Kristo a hiki i ke ola mau loa ana.
21hãy giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời.
22E aloha aku oukou i kahi poe e hoolike ole ana.
22Hãy trách phạt những kẻ nầy, là kẻ trù trừ,
23A o kahi poe e hoola ae oukou ma ka makau, me ka huki ia lakou mai ke ahi mai; me ka inaina aku i ke kapa i paumaele i ko ke kino.
23hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế.
24Eia hoi, i ka mea e hiki ai ke malama ia oukou i ole ai e haule, e hooku mai hoi ia oukou i hemolele imua i ke alo o kona nani me ka hauoli nui aku;
24Vả, nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được,
25I ke Akua akamai hookahi, ko kakou mea e ola'i, nona no ka hoonaniia, a me ka hanohano, a me ka ikaika, a me ka mana i keia wa, a i ke ao pau ole. Amene.
25là Đức Chúa Trời có một, là Cứu Chúa chúng ta, bởi Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta, được sự vinh hiển, tôn trọng, thế lực, quyền năng thuộc về Ngài từ trước vô cùng và hiện nay cho đến đời đời! A-men.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.