Jude 1
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ma sel Jude, mwet kulansap lun Jesus Christ, ac tamulel lal James — Nu selos su pangonyuk tari sin God, su moul ac pulakin lungse lun God Papa, ac su karinginyuk sin Jesus Christ:
1Giu-đe, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ và em Gia-cơ, đạt cho những kẻ đã được kêu gọi, được Đức Chúa Trời, là Cha yêu thương, và được Đức Chúa Jêsus Christ giữ gìn:
2Lela pakoten, misla, ac lungse in yokyokelik in kowos.
2nguyền xin sự thương xót, bình an, yêu mến thêm lên cho anh em!
3Mwet kawuk saok luk, nga tuh kena ma lulap in sim nu suwos ke molela se su kut tukeni ipeis kac. Tusruktu nga pulauk lah oasr enenu yohk nga in sulaklak sim nu suwos inge in akkeye kowos tuh kowos in sruokya ku lulalfongi se su God El tuh sang tari nu sin mwet lal, ke pacl sefanna ma in akfalye pacl nukewa.
3Hỡi kẻ rất yêu dấu, vì tôi đã ân cần viết cho anh em về sự cứu rỗi chung của chúng ta, tôi tưởng phải làm điều đó, để khuyên anh em vì đạo mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi.
4Tuh kutu mwet su pilesru God elos mahsrikyak nu inmasrlosr ke kut tia akilen — mwet su ekulla mwe luti ke lungkulang lun God lasr tuh elos in oru na lumah fohkfok lalos, ac elos lafwekin Jesus Christ, su el mukena pa Mwet Kol Fulat lasr ac Leum lasr. In pacl oemeet ah Ma Simusla nuna fahk lah elos ac fah mau lisyukla.
4Vì có mấy kẻ kia lẻn vào trong vòng chúng ta là những kẻ bị định đoán phạt từ lâu rồi, kẻ chẳng tin kính đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác, chối Đấng Chủ tể và Chúa có một của chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ.
5Tuh kowos finne etu ma inge nukewa, a nga kena akesmakinye kowos ke Leum El tuh molela mwet Israel liki facl Egypt, na toko El kunausla mwet ma tia lulalfongi.
5Dầu Anh em đã học những điều nầy rồi, tôi cũng muốn nhắc lại cho anh em rằng, xưa kia Chúa giải cứu dân mình ra khỏi xứ Ê-díp-tô, sau lại tiêu diệt những kẻ không tin;
6Kowos in esam pac lipufan su tia akfalye ku se ma itukyang nu selos, a elos sisla acn ma oakwuk elos in muta we: elos kapiri ke sein in acn lohsr ma pahtpat, yen God El fuhlelosi we in soano Len lulap sac su ac fah nununkeyuk elos.
6còn các thiên sứ không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình thì Ngài đã dùng dây xích họ trong nơi tối tăm đời đời, cầm giữ lại để chờ sự phán xét ngày lớn.
7Esam acn Sodom ac Gomorrah, ac inkul ma oan apkuran, su mwet we orekma oana ma lipufan inge elos tuh oru, ac elos orek kosro ac oru pac lumah na fohkfok: elos keok ke kaiyuk lun e su firir ma pahtpat, su oana sie mwe srikasrak na kalem nu sin mwet nukewa.
7Lại như thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ cùng các thành lân cận cũng buông theo sự dâm dục và sắc lạ, thì đã chịu hình phạt bằng lửa đời đời, làm gương để trước mặt chúng ta.
8In ouiya sac pacna, mwet inge liye aruruma su oru elos in oru ma koluk lain manolos sifacna; elos kwase ku lun God, ac fahk kas enum ke lipufan wo su muta lucng.
8Nhưng mà chúng nó cũng như vậy, trong giấc mơ màng làm ô uế xác thịt mình, khinh dể quyền phép rất cao và nói hỗn các đấng tôn trọng.
9Finne Michael, su leum lun lipufan, el tia oru ouinge. Ke amei lal yorol Devil ke pacl se eltal akukuinla ke manol Moses lah su ac eis mano sac, Michael el tiana akkolukyal Devil ke kas enum, a el fahk, “Leum God Elan kai kom!”
9Vả, khi chính mình thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỉ giành xác Môi-se, còn chẳng dám lấy lời nhiếc móc mà đoán phạt; người chỉ nói rằng: Cầu Chúa phạt ngươi!
10A mwet inge kaskas enum in lain kutena ma su elos tia kalem kac; ac ma su elos pulakin ke lungse lun ikwa oana kosro lemnak, ma inge pa kunauselosla.
10Song những kẻ nầy, hễ đều gì không biết thì khinh dể hết; và mọi điều chúng nó tự nhiên mà biết cũng như con thú vật vô tri, thì dùng mà làm hư mình.
11Ac fah arulana koluk nu selos! Elos fahsr tukun ouiya ma Cain el tuh oru. Ke sripen lungse mani, elos eisalosyang sifacna nu ke ouiya tafongla lal Balaam. Elos tunyuna lain God oana Korah el tuh oru, na ac fah kunausyukla elos oana el.
11Khốn nạn thay cho chúng nó, vì đã theo đường của Ca-in, lấy lòng tham lợi mà gieo mình vào sự sai lạc của Ba-la-am; và bị hư mất về sự phản nghịch của Cô-rê.
12Ke elos orek wohwon ac sumwekin, elos oana tuhn fohkfok ke pacl in kufwen sie sin sie lowos. Elos nunku kaclos sifacna. Elos oana pukunyeng tuhwot tuhme ma eng uh uk a wangin af kakla kac. Elos oana sak ma wangin fahko, finne ke pacl in fok — oana sak ma fifyak ac masla.
12Những kẻ đó là dấu vít trong đám tiệc anh em, như người chăn chiên chỉ tưởng nuôi mình cho no nê, không lo sợ gì; như đám mây không nước, theo gió đưa đi đây đi đó, như cây tàn mùa thu, không có trái, hai lần chết, trốc lên bựt rễ;
13Elos oana noawot fin kof uh, ac orekma fohkfok lalos pahtak oana wiawa uh. Elos oana itu ma fahsr sayen inkanek lalos, su God El srela sie acn nu selos in acn lohsr matoltol.
13như sóng cuồng dưới biển, sôi bọt ô uế của mình; như sao đi lạc, sự tối tăm mù mịt đã dành cho chúng nó đời đời!
14Enoch, su ma ke fwil akonkosr natul Adam, pa tuh palye in pacl oemeet ah ke ma ac sikyak nu selos, mu: “Leum God El fah tuku wi tausin puspis sin lipufan mutal lal,
14Aáy cũng vì họ mà Hê-nóc, là tổ bảy đời kể từ A-đam, đã nói tiên tri rằng:
15in nununku mwet nukewa, ac in sang mwatalos nukewa ke orekma koluk ma mwet su tia akfulatye God elos oru, oayapa ke kas koluk nukewa elos fahk lainul!”
15Nầy, Chúa ngự đến với muôn vàn thánh, đặng phán xét mọi người, đặng trách hết thảy những người không tin kính về mọi việc không tin kính họ đã phạm, cùng mọi lời sỉ hổ mà những kẻ có tội không tin kính đó đã nói nghịch cùng Ngài.
16Pacl nukewa mwet inge torkaskas ac sis koluk nu fin mwet ngia; elos fahsr tukun lung koluk lalos sifacna, ac sifacna yukunulos, ac oru kas in eyeinse nu sin mwet uh elos in welulos.
16Aáy đều là những kẻ hay lằm bằm, hay phàn nàn luôn về số phận mình, làm theo sự ham muốn mình, miệng đầy những lời kiêu căng, và vì lợi mà nịnh hót người ta.
17Tusruktu, mwet kawuk luk, kowos in esam kas ma mwet sap lun Leum lasr Jesus Christ elos tuh fahk nu suwos in pacl meet ah.
17Nhưng anh em, là kẻ rất yêu dấu, hãy nhớ lấy những lời mà các sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đã nói trước.
18Elos tuh fahk nu suwos, “Ke len safla ac tuku, oasr mwet ac mau sikyak su ac fah aksruksruki kowos. Mwet inge elos pilesru God ac fahsr ke lungse koluk lalos sifacna.”
18Các sứ đồ đó nói với anh em rằng, trong các thời k” sau rốt, sẽ có mấy người hay nhạo báng làm theo lòng ham muốn không tin kính của mình.
19Pa inge mwet ma oru in oasr srisrielik; lungse lun faclu leum faclos, ac Ngun lun God wangin in elos.
19Aáy chính chúng nó là kẻ gây nên phe đảng, thuộc về tánh xác thịt, không có Đức Thánh Linh.
20A funu kowos, mwet kawuk luk, kowos in sifacna musaikowosyak fin lulalfongi mutal lowos. Pre ke ku lun Ngun Mutal,
20Hỡi kẻ rất yêu dấu, về phần anh em, hãy tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình, và nhân Đức Thánh Linh mà cầu nguyện,
21ac liyekowosyang sifacna in mutana in lungse lun God, oana ke kowos tupan Leum lasr Jesus Christ ke lungkulang lal in asot moul ma pahtpat nu suwos.
21hãy giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời.
22Kowos in pakoten nu selos su alolo;
22Hãy trách phạt những kẻ nầy, là kẻ trù trừ,
23kowos in molela mwet su enenu in moliyukla, oana elos su kowos tulakunla liki e uh; ac nu sin mwet ngia, kowos in kulang nu selos ac sifacna sensenkin kowos; tusruktu kowos in kwase nuknuk fohkfok elos nukum su tuhnla ke lung koluk lalos.
23hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế.
24Nu sel su ku in sruokkowosi tuh kowos in tia ikori, ac su ac fah uskowosme ke engan lulap ac wangin mwatuwos nu ye mutal in wolana lal —
24Vả, nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được,
25nu sin God sefanna, Mwet Lango lasr, ke Jesus Christ Leum lasr — nu sel wolana, fulatlana, ku, ac wal, ke fwil oemeet me, nu inge, ac nu tok ma pahtpat! Amen.
25là Đức Chúa Trời có một, là Cứu Chúa chúng ta, bởi Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta, được sự vinh hiển, tôn trọng, thế lực, quyền năng thuộc về Ngài từ trước vô cùng và hiện nay cho đến đời đời! A-men.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.