Deuteronomy
Chapter 1
Bible Mutal (Kosraean)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Deuteronomy 1

Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Pa inge kas lal Moses nu sin mwet Israel ke pacl se elos oasr yen mwesis, kutulap in Infacl Jordan. Elos muta ke Infahlfal lun Jordan tulanang acn Suph, inmasrlon siti Paran ac siti Tophel, Laban, Hazeroth, ac Dizahab. (
1Nầy là lời Môi-se nói cho cả Y-sơ-ra-ên, bên kia sông Giô-đanh, tại đồng vắng, trong đồng bằng, đối ngang Su-phơ, giữa khoảng Pha-ran và Tô-phên, La-ban, Hát-sê-rốt, và Đi-xa-háp.
2Mwet uh fahsr ut ke fulan eol Edom ke lusen len singoul sie, Fineol Sinai nu Kadesh Barnea.)
2Từ Hô-rếp tới Ca-đe-Ba-nê-a, bởi đường núi Sê-i-rơ, đi mười một ngày đường.
3Ke len se emeet in malem aksingoul sie ke yac akangngaul tukun elos illa liki acn Egypt, Moses el fahkang nu sin mwet uh ma nukewa ma LEUM GOD El sapkin elan fahk nu selos.
3Nhằm năm bốn mươi, ngày mồng một tháng mười một. Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên mọi điều mà Đức Giê-hô-va đã biểu người phải nói cùng họ.
4Ma se inge sikyak tukun LEUM GOD El kutangulla Tokosra Sihon lun mwet Amor su leumi siti Heshbon, ac Tokosra Og lun Bashan su leumi siti Ashtaroth ac Edrei.
4Aáy là sau khi người đã đánh giết Si-hôn, vua dân A-mô-rít ở tại Hết-bôn, và Oùc, vua Ba-san, ở tại Aùch-ta-rốt và Eát-rê-i.
5Mwet uh srakna muta kutulap in Infacl Jordan in facl sin mwet Moab ke Moses el mutawauk in aketeya ac luti ke ma sap lun God. El fahk,
5Tại bên kia sông Giô-đanh, trong xứ Mô-áp, Môi-se khởi giảng giải luật pháp nầy mà rằng:
6“Ke kut srakna muta ke Eol Sinai, LEUM GOD lasr El fahk nu sesr, ‘Fal tari muta lowos ke eol soko inge.
6Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta có phán cùng chúng ta tại Hô-rếp mà rằng: Các ngươi kiều ngụ trong núi nầy đã lâu quá;
7Tuleya lohm nuknuk suwos an ac mukuiyak. Fahsr nu infulan eol lun mwet Amor ac nu ke acn nukewa ma raunela — nu Infahlfal Jordan, nu infulan eol uh ac acn tupasrpasr uh, nu ke acn ma oan layen eir, ac nu ke weacn Meoa Mediterranean. Fahsr nu in facl Canaan ac alukeot pac Eol Lebanon, som na nwe ke Infacl lulap Euphrates.
7hãy vòng lại và đi đến núi dân A-mô-rít, cùng đến các miền ở gần bên, tức là đến nơi đồng bằng, lên núi, vào xứ thấp, đến miền nam, lên mé biển, vào xứ dân Ca-na-an và Li-ban, cho đến sông lớn, là sông Ơ-phơ-rát.
8Acn inge nukewa pa nga, LEUM GOD , wulela kac in sang nu sin papa matu tomowos: Abraham, Isaac, ac Jacob, ac nu sin fwilin tulik natulos. Fahla ac eis lowos.’”
8Kìa, ta phó xứ nầy cho các ngươi! Hãy vào và chiếm lấy xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ các ngươi, là Aùp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, cùng cho con cháu của họ.
9Moses el fahk nu sin mwet uh, “Ke kut srakna muta Eol Sinai nga tuh fahk nu suwos, ‘Arulana upala nu sik in kol u lulap se inge. Nga tia ku in mukena oru.
9Trong lúc đó ta có nói cùng các ngươi rằng: Một mình ta không đủ sức cai trị các ngươi.
10LEUM GOD lowos El oru kowos in arulana pus, oana itu inkusrao uh.
10Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã gia thêm các ngươi, kìa ngày nay, các ngươi đông như sao trên trời.
11Lela LEUM GOD lun papa matu tomowos Elan akpusye kowos pacl tausin yohk liki inge, ac akinsewowoye kowos, oana ke El tuh wulela kac!
11Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi khiến các ngươi thêm lên gấp ngàn lần và ban phước cho, y như Ngài đã phán cùng các ngươi.
12Tusruktu nga ac mukena aksuwosye alein lowos uh fuka?
12Một mình ta làm thế nào mang lấy trách nhiệm và gánh nặng về điều tranh tụng của các ngươi?
13Sulela kutu mwet lalmwetmet, mwet etauk ac mwet pah, liki kais sie sruf lowos, ac nga ac fah oru tuh elos in mwet kol lowos.’
13Hãy chọn trong mỗi chi phái các ngươi những người khôn ngoan, thông sáng, có tiếng, và ta sẽ lập họ lên làm quan trưởng các ngươi.
14Na kowos tuh insese mu wona in orek ouinge.
14Các ngươi có đáp rằng: Việc người toan làm thật tốt thay.
15Ke ma inge nga eis mwet lalmwetmet ac pah ma kowos tuh sulela in sruf lowos uh, ac nga oru tuh elos in mwet kol lowos. Kutu selos leum fin tausin, kutu leum fin foko, kutu fin lumngaul, ac kutu fin singoul. Nga oayapa srisrngiya kutu mwet pwapa saya in sruf nukewa.
15Bấy giờ, ta chọn lấy những người quan trưởng của các chi phái, là những người khôn ngoan, có tiếng, lập lên làm quan tướng các ngươi, hoặc cai ngàn người, hoặc cai trăm người, hoặc cai năm mươi người, hoặc cai mười người, và làm quản lý trong những chi phái của các ngươi.
16“In pacl sac nga tuh fahk nu selos, ‘Porongo alein ma ac sikyak inmasrlon mwet lowos. Oru nununku lowos ke alein inge nukewa in suwohs, finne ma sin mwet lowos sifacna, ku ma sin mwetsac su muta inmasrlowos.
16Trong lúc đó, ta ra lịnh cho những quan xét các ngươi rằng: Hãy nghe anh em các ngươi, và lấy công bình mà xét đoán sự tranh tụng của mỗi người với anh em mình, hay là với khách ngoại bang ở cùng người.
17Nimet wiwi mwet ke wotela lowos an. Kowos in nununku mwet nukewa oana sie ac nimet suk lah su. Nimet tupwek sin kutena mwet, mweyen ma kowos wotela uh ma sin God me. Fin oasr alein upala nu suwos, use nu yuruk ac nga fah wotela.’
17Trong việc xét đoán, các ngươi chớ tư vị ai; hãy nghe người hèn như nghe người sang, đừng có sợ ai, vì sự xét đoán thuộc về Đức Chúa Trời. Phàm việc nào lấy làm rất khó cho các ngươi, hãy đem đến trước mặt ta thì ta sẽ nghe cho.
18In pacl sacn pacna, nga tuh sot nu suwos kas in luti nu ke ma nukewa saya ma kowos in oru.
18Vậy, trong lúc đó, ta có truyền cho các ngươi mọi điều mình phải làm.
19“Kut orala ma LEUM GOD El sapkin nu sesr. Kut som liki Eol Sinai ac fahsr sasla yen mwesis na lulap sac su oasr mwe aksangeng puspis we, ke kut ut ke inkanek ke fulan eol lun mwet Amor. Na ke kut sun acn Kadesh Barnea,
19Đoạn, bỏ Hô-rếp, chúng ta trải ngang qua đồng vắng minh-mông và gớm ghê mà chúng ta thấy kia, hướng về núi dân A-mô-rít, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phán dặn; rồi chúng ta đến Ca-đe-Ba-nê-a.
20nga tuh fahk nu suwos, “Kowos sun tari fulan eol sin mwet Amor, su LEUM GOD lasr El ase nu sesr.
20Bấy giờ, ta nói cùng các ngươi rằng: Các ngươi đã đến núi của dân A-mô-rít mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ban cho chúng ta.
21Liye, LEUM GOD lowos El asot facl se inge lowos. Utyak oakikowosi we, oana LEUM GOD lun papa matu tumasr El wulela kac. Nikmet sangeng ku alolo.’
21Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi phó xứ nầy cho ngươi; hãy đi lên, chiếm làm sản nghiệp, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi đã phán cùng ngươi; chớ ái ngại, chớ kinh khủng.
22“A kowos tuku nu yuruk ac fahk, ‘Wona kut in supwala kutu mukul ah in som meet liki kut in kalngei acn sac, elos in mau fahk nu sesr lah siti fuka ingo, ac pia inkanek fal kut in ut we.’
22Các ngươi hết thảy bèn lại gần ta và nói rằng: Hãy sai những người đi trước chúng tôi, đặng do thám xứ và chỉ bảo về đường sá nào chúng tôi phải lên, và các thành chúng tôi phải vào.
23“Nga insese nu ke nunak sac, na nga sulela mwet singoul luo, kais sie ke kais sie sruf.
23Lời nầy đẹp lòng ta; ta chọn mười hai người trong các ngươi, tức mỗi chi phái một người.
24Elos som nu infulan eol uh nwe ke elos sun Infahlfal Eshcol, ac irong acn we nukewa.
24Mười hai người đó ra đi. lên núi, đi đến khe Eách-côn và do thám xứ.
25Elos foloko us kutu fokinsak ma elos konauk we, ac fahkak lah facl se su LEUM GOD lasr El ase in sesr ingo arulana wo fohk we.
25Họ hái cầm trong tay mình những trái cây xứ đó, đem về cho chúng ta; thuật lại cùng chúng ta rằng: Xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ban cho thật là tốt.
26“A kowos utuk nunak lain ma LEUM GOD lowos El sapkin, ac kowos srangesr utyak nu in facl sac.
26Nhưng các ngươi không muốn lên đó, và đã bội nghịch mạng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi,
27Kowos torkaskas in lohm nuknuk suwos ac fahk, ‘ LEUM GOD El srungakut. El uskutme liki acn Egypt in tuh eiskutyang nu inpoun mwet Amor inge, elos in unikuti.
27lằm bằm trong trại mình mà rằng: Aáy bởi Đức Giê-hô-va ghét chúng ta, nên khiến chúng ta ra xứ Ê-díp-tô, đặng phó chúng ta vào tay dân A-mô-rít, để tiêu diệt đi.
28Efu ku kut in som nu we? Kut sangeng. Mwet ma kut supwala nu ingo fahk nu sesr lah mwet we elos arulana ku ac loes liki kut, oayapa pot in siti ma elos muta we uh arulana fulat nwe lucng. Elos liye pac mwet na yohk pisa we!’
28Chúng ta sẽ đi lên đâu? Anh em chúng ta làm cho chúng ta tiêu gan vì nói rằng: Aáy là một dân đông hơn và cao lớn hơn chúng ta; ấy là những thành lớn và kiên cố đến tận trời; vả lại, tại đó, chúng tôi có thấy những con cháu của dân A-na-kim.
29“Tusruktu nga fahk nu suwos, ‘Nimet sangeng sin mwet ingo.
29Nhưng ta nói cùng các ngươi rằng: Chớ ái ngại và chớ sợ sệt gì.
30“ LEUM GOD lowos El ac fah kol kowos, ac El ac fah mweun keiwos, oana ke kowos liye ke El tuh oru in facl Egypt
30Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đi trước, chính Ngài sẽ chiến-cự cho các ngươi, như Ngài đã thường làm trước mắt các ngươi tại xứ Ê-díp-tô,
31ac yen mwesis. Kowos liye na lah fuka El uskowosme ac karingin kowos nwe ke kowos sun acn se inge, oana ke sie papa el kafisak wen natul.’
31và trong đồng vắng -là nơi ngươi thấy rằng trọn dọc đường ngươi đi, cho đến khi tới chốn nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã bồng ngươi như một người bồng con trai mình.
32Tusruktu nga ne fahk ouinge, kowos srakna tia lulalfongi LEUM GOD ,
32Dầu vậy, các ngươi vẫn không tin Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi,
33El ne fahsr meet liki kowos in pacl nukewa in suk acn ma kowos ac aktuktuk we. In akkalemye innek lowos, El fahsr meet liki kowos in sie sru in e ke fong, ac in sie sru in pukunyeng ke len.
33là Đấng đi trước dẫn các ngươi trên đường, để tìm cho các ngươi một nơi đóng trại; ban đêm trong đám lửa, ban ngày trong đám mây, đặng chỉ con đường các ngươi phải đi.
34“ LEUM GOD El lohng torkaskas lowos ac kasrkusrakak. Ouinge El fulahk mu,
34Bấy giờ, Đức Giê-hô-va nghe tiếng của lời nói các ngươi, bèn nổi giận và thề rằng:
35‘Wangin sie suwos ke fwil koluk se inge ac fah ilyak nu in facl se ma wo fohk we su nga tuh wulela in sang nu sin papa matu tomowos.
35Chẳng một ai của dòng dõi gian ác nầy sẽ thấy xứ tốt đẹp mà ta đã thề ban cho tổ phụ các ngươi,
36Caleb, wen natul Jephunneh, mukena ac fah utyak nu we. El srakna inse pwaye nu sik, ac nga fah sang acn ma el kalngeyuk we nu sel, ac nu sin fwilin tulik natul.’
36ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê. Người sẽ thấy xứ đó; và ta sẽ ban cho người cùng con cháu người xứ mà người đã trải qua, bởi vì người có theo Đức Giê-hô-va cách trung tín trọn vẹn.
37Ke sripowos LEUM GOD El oayapa kasrkusrak sik ac fahk, ‘Moses, kom ac fah tia pac ilyak nu in facl sac.
37Lại, Đức Giê-hô-va vì cớ các ngươi cũng nổi giận cùng ta, mà rằng: Ngươi cũng vậy, sẽ không vào đó đâu.
38Joshua, wen natul Nun, mwet kasru lom, pa ac kol mwet Israel in eisla facl sac ac muta we. Na kom in akkeyal.’
38Giô-suê, con trai Nun, là đầy tớ ngươi, sẽ được vào đó. Hãy làm cho người vững lòng, vì ấy là người sẽ khiến dân Y-sơ-ra-ên nhận lấy xứ nầy lảm sản nghiệp.
39“ LEUM GOD El fahk nu sesr nukewa, ‘Tulik nutuwos, su srakna srikla in etu inmasrlon ma wo ac ma koluk, elos pa ac utyak nu in facl sac — tulik ma kowos tuh fahk mu ac sruhu sin mwet lokoalok lowos. Nga fah sang facl sac nu selos, ac elos fah eisla ac muta fac.
39Những con trẻ của các ngươi và các ngươi đã nói rằng sẽ thành một miếng mồi, và những con trai các ngươi hiện bây giờ chưa biết điều thiện hay là điều ác, sẽ vào xứ đó. Ta sẽ ban cho chúng nó xứ nầy làm sản nghiệp;
40A funu kowos, forla ac folokla nu yen mwesis ke inkanek nu Meoa Srusra.’
40nhưng các ngươi hãy trở về, đi đến đồng vắng về hướng Biển đỏ.
41“Na kowos topuk ac fahk nu sik, ‘Moses, kut orekma koluk lain LEUM GOD . Tusruktu inge kut ac som mweun, in oana ke LEUM GOD lasr El sapkin.’ Na kais sie suwos tuh akola in mweun, ac nunku mu ac fisrasr in utyak eisla fulan eol uh.
41Lúc đó, các ngươi bèn đáp cùng ta mà rằng: Chúng tôi đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va; chúng tôi sẽ đi lên chiến trận và làm mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đã phán dặn. Mỗi người trong các ngươi nịt binh khí và toan dại dột đi lên núi.
42“Tusruktu LEUM GOD El fahk nu sik, ‘Fahk nu selos elos in tia som mweun, mweyen nga ac tia welulos, ac mwet lokoalok lalos ac kutangulosla!’
42Đức Giê-hô-va bèn phán cùng ta rằng: Hãy nói cùng dân sự: Chớ đi lên và chớ chiến trận, vì ta không ngự giữa các ngươi; e các ngươi bị quân thù nghịch đánh bại.
43Nga tuh fahk nu suwos ma LEUM GOD El fahk, a kowos tiana lungse lohng. Kowos utuk nunak lainul, ac ke nunak keke lowos kowos utyak na nu infulan eol uh.
43Ta có thuật lại những lời nầy, nhưng các ngươi không nghe ta, nghịch mạng của Đức Giê-hô-va, đầy sự kiêu ngạo, kéo đi lên núi.
44Na mwet Amor su muta infulan eol uh elos ilme lain kowos oana un loang in eir uh. Elos ukwe kowos na nwe Hormah, ac kutangkowosla infulan eol Edom.
44Bấy giờ, người A-mô-rít ở trong núi nầy, đi ra đón và đuổi các ngươi như thể đoàn ong, đánh bại các ngươi tại Sê-i-rơ cho đến Họt-ma.
45Na kowos tuh foloko ac wowoyak nu sin LEUM GOD in suk kasru, tusruktu El tiana porongekowos ku lohwot nu suwos.
45Khi trở về, các ngươi có khóc lóc trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng Đức Giê-hô-va không lắng tai và chẳng khứng nghe tiếng của các ngươi.
46“Ouinge, tukun kut tuh muta Kadesh ke sie pacl na loeloes,
46Aáy vì thế nên các ngươi ở tại Ca-đe lâu ngày, nhiều ngày biết dường bao!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.