Deuteronomy
Chapter 33
Bible Mutal (Kosraean)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Deuteronomy 33

Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Pa inge kas in akinsewowo ma Moses, mwet lun God, el akinsewowoye mwet Israel kac meet liki el misa.
1Vả, nầy là lời chúc phước mà Môi-se, người của Đức Chúa Trời, chúc cho dân Y-sơ-ra-ên, trước khi qua đời.
2LEUM GOD El tuku Eol Sinai me; El takak oana fact uh fin acn Edom, Ac sreya mwet lal liki Eol Paran. Oasr singoul tausin lipufan welul Ac sie e firir oan lac paol layot.
2Người bèn nói: Đức Giê-hô-va đã đến từ Si-na-i, Ngài từ Sê-i-rơ dấy lên trên dân chúng, Chiếu sáng từ núi Pha-ran, Đến từ giữa muôn vàn đấng thánh; Từ tay hữu Ngài phát ra cho họ lửa của luật pháp Ngài.
3LEUM GOD El lungse mwet lal. Ac loangelos su ma lal. Ouinge kut pasrla sisken nial Ac akos ma El sapkin.
3Ngài thương yêu dân sự, Các thánh của Ngài đều ở trong tay Ngài, Quì xuống chân Ngài, Đặng lãnh những lời của Ngài.
4Kut akos Ma Sap ma Moses el ase nu sesr, Sie ma saoklana lun mutunfacl sesr.
4Môi-se đã ban một luật pháp cho chúng tôi, Là cơ nghiệp của hội chúng Gia-cốp.
5LEUM GOD El tokosrala lun mwet Israel Ke pacl sruf nukewa ac mwet kol lalos tuh tukeni nu sie.
5Khi các quan trưởng của dân sự hội hiệp, Với những chi phái Y-sơ-ra-ên, Thì Ngài trở nên vua của Giê-su-run.
6Moses el fahk ke sruf lal Reuben: “Lela mwet Reuben in tiana wanginla, Elos finne mwet na pu.”
6Nguyện Ru-bên sống, chớ thác, Dẫu số người của nó sẽ ít đông.
7Ke sruf lal Judah el fahk: “ LEUM GOD , porongo pusren tung ac kwafe lalos, Sifilpa oraloseni nu yurin sruf wialos. Mweun kaclos, LEUM GOD , Ac kasrelos in lain mwet lokoalok lalos.”
7Người chúc cho Giu-đa rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, cầu xin Ngài nghe tiếng của Giu-đa, Và đưa người về dân mình; Nguyện tay người binh vực chúng, Xin Chúa đến giúp người đương địch cùng kẻ thù nghịch mình!
8Ke sruf lal Levi el fahk: “ LEUM GOD , akkalemye lungse lom nu sin mwet kulansap oaru lom, mwet Levi, Ke Urim ac Thummim; Kom tuh sang mwe srike nu selos in acn Massah, Ac konauk inse pwaye lalos sisken kof Meribah.
8Người cũng chúc cho Lê-vi rằng: Thu-mim và u-rim của ngươi vốn thuộc về người tin kính của ngươi, Mà ngươi thử thách tại Ma-sa, Tranh giành với tại nước Mê-ri-ba.
9Elos akkalemye inse pwaye lalos nu sum Yohk liki na nu sin papa, nina, mwet wialos, ku tulik natulos. Elos akos ma sap lom, Ac elos arulana liyaung wuleang lom.
9Lê-vi nói về cha mẹ mình rằng: Tôi không hề thấy cha mẹ; Người không nhận anh em mình, Chẳng biết đến con cái mình. Vì người gìn giữ lời Chúa, Canh chừng sự giao ước của Chúa.
10Elos ac fah luti mwet lom in akos Ma Sap ac oakwuk lom; Elos ac fah oru mwe kisa keng ac mwe kisa firir fin loang lom.
10Họ lấy mạng lịnh của Chúa dạy cho Gia-cốp, Và luật pháp Chúa cho Y-sơ-ra-ên; Họ để hương dưới mũi Ngài, Đặt của lễ thiêu trên bàn thờ Ngài.
11LEUM GOD , kasru sruf lalos in kapak ac ku; Kom in engan ke ma elos oru. Itungya mwet lokoalok lalos nukewa; Tia lela elos in sifil tuyak.”
11Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban phước cho của cải người, Và nhậm công việc của tay người làm. Xin bẻ nát họng của kẻ dấy nghịch và ghen ghét người, Để chúng nó không thế dấy lên nữa!
12Ke sruf lal Benjamin el fahk: “Pa inge sruf se LEUM GOD El lungse ac loango; El liyalosyang ke len na fon, Ac El muta inmasriolos.”
12Người chúc về Bên-gia-min rằng: Người mà Đức Giê-hô-va yêu mến Sẽ được ở yên gần bên Ngài. Hằng ngày Đức Giê-hô-va sẽ che chở người, Lập nơi ở Ngài giữa hai vai người.
13Ke sruf lal Joseph el fahk: “Lela LEUM GOD Elan akinsewowoye facl selos ke af, Ac ke kof ye faclu yak.
13Người chúc về Giô-sép rằng: Xứ người được Đức Giê-hô-va ban phước; Từ trời Ngài giáng xuống cho người ân tứ rất báu, là sương-móc, Những suối của vực thẳm có nước sâu;
14Lela acn selos in insewowo ke fokinsak mwesrla ye fact uh, Ac kasrup ke fokinsak ma wo emeet ke kais sie pulan pacl.
14Những huê lợi quí nhất của mặt trời, Hoa quả cực báu của mặt trăng;
15Lela eol ma oan oemeet me in afla ke fokinsak wowo.
15Những vật nhất hạng của núi xưa, Các báu lạ của mấy gò đống đời đời,
16Lela acn selos in nwanala ke ma wo nukewa, Ac akinsewowoyeyuk ke wolana lun LEUM GOD Su kaskas liki kupo firir sac. Lela mwe insewowo inge in tuku nu ke sruf lal Joseph, Mweyen el pa tuh mwet kol inmasrlon tamulel wial.
16Bửu bối của đất, và sự sung mãn nó. Nguyện ơn của Đấng hiện ra trong bụi gai Giáng xuống trên đầu Giô-sép, Và trên trán của chúa anh em người!
17Ku lal Joseph oana ku lun soko cow mukul, Ac oana koen soko cow mukul lemnak. Koac inge pa mwet lal Manasseh, su pus liki tausin, Oayapa mwet lal Ephraim, su pus liki ngoul tausin. El sang koac inge fakis mutunfacl uh, Ac sinukunulos nu ke saflaiyen faclu.”
17Oai nghiêm người giống như con bò đực đầu lòng; Hai sừng người vốn sừng của trâu! Người lấy sừng ấy báng mọi dân, Cho đến cuối đầu của đất. Đó là hằng muôn của Eùp-ra-im, Aáy là hằng ngàn của Ma-na-se.
18Ke sruf lal Zebulun ac sruf lal Issachar el fahk: “Lela mwet Zebulun in kapkapak ke elos ac oru kuka lalos nu ke facl saya. Ac lela kasrup lal Issachar in yokyokelik in acn sel sifacna.
18Người chúc về Sa-bu-lôn rằng: Hỡi Sa-bu-lôn, khá vui mừng về cuộc mình đi ra ngoài, Còn ngươi, Y-sa-ca, hãy hớn hở trong các trại mình!
19Elos suli mwetsac nu fineol selos, Ac oru mwe kise pwaye we. Elos eis kasrpalos meoa me, Ac liki puk weacn uh.”
19Hai người sẽ gọi các dân tộc lên núi; Tại đó, dâng những của tế lễ công bình; Vì hai người sẽ hút sự dư dật của biển, Và những bửu vật lấp dưới cát.
20Ke sruf lal Gad el fahk: “Kaksakin God, su oru facl selos in yohk. Sruf lal Gad el soano oana soko lion In olela lac pao, ku sukela kulun sifa.
20Người chúc về Gát rằng: Đáng ngợi khen thay Đấng để Gát nơi quảng-khoát, Người nằm nghỉ như một sư tử cái, Và xé cánh tay cùng đầu.
21Elos eisla acn ma wo emeet tuh in ma lalos sifacna; Ip lun sie mwet kol srisrngiyuki nu selos. Elos akos ma sap ac oakwuk lun LEUM GOD Ke mwet kol lun Israel elos tuh tukeni nu sie.”
21Người đã chọn cho mình phần đầu nhất của xứ, Bởi vì tại đó đã dành phần của đấng lập luật pháp, Và người ở đằng đầu dân sự đi đến. Người đồng lòng với Y-sơ-ra-ên làm xong công bình của Đức Giê-hô-va, Và làm theo những mạng lịnh của Ngài.
22Ke sruf lal Dan el fahk: “Dan el soko lion fusr; Ma sroma Bashan me.”
22Người chúc về Đan rằng: Đan là một sư tử tơ, Từ Ba-san nhảy xông đến.
23Ke sruf lal Naphtali el fahk: “Yoklana mwe insewowo lal Naphtali ke sripen lungkulang lun LEUM GOD nu sel. Acn sel oasr roto in Lulu Galilee ac som pac nu eir.”
23Người chúc về Nép-ta-li rằng: Nép-ta-li hưởng ân huệ cho thỏa nguyện, Và phước lành của Đức Giê-hô-va cho đầy dẫy, Chiếm được phương tây và phương nam.
24Ke sruf lal Asher el fahk: “Akinsewowoyeyuk sruf lal Asher yohk liki sruf saya. Lela in el pa ohi yurin tamulel lal, Ac lela facl sel in kasrup ke sak olive.
24Người chúc về A-se rằng: Nguyện cho A-se được phước giữa các con trai Y-sơ-ra-ên; Được đẹp lòng anh em mình, Và được dầm chân mình trong dầu!
25Srungul ke mutunpot nukewa ke siti sel in orekla ke osra, Ac elan muta in misla pacl nukewa.”
25Những then cửa người sẽ bằng sắt và đồng, Đời ngươi lâu bao nhiêu, sức mạng ngươi lâu bấy nhiêu.
26Mwet Israel, wangin sie god oana God lowos. El kasrusrsrusr in wolana lal yen engyeng uh, El kasrma fin pukunyeng uh me in kasrekowos.
26è Giê-su-run, không ai giống như Đức Chúa Trời, Là Đấng oai nghi, cỡi trên các từng trời, Trên những đám mây, đặng đến cứu giúp ngươi.
27God El nuna nien molela lowos oemeet me, El kafiskowosyak ke po kawil lal. El lusak mwet lokoalok lowos meet liki kowos utyak nu yen selos, Ac fahk nu suwos in kunauselosla nukewa.
27Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ỳ dưới có cánh tay đời đời của Ngài, Ngài đuổi kẻ thù nghịch khỏi trước mặt ngươi, Và phán cùng ngươi rằng: Hãy diệt đi!
28Ouinge fwilin tulik natul Jacob elos muta in misla, Ac okaki in sie facl sessesla ke wheat ac wain, Yen aunfong inkusrao me aksroksrokye fohk uh.
28Y-sơ-ra-ên sẽ ở bình an; Suối Gia-cốp phun lên riêng ra Trong một xứ ngũ cốc và rượu; Trời của ngươi nhỏ sương móc xuống.
29Israel, fuka lupan engan lom! Wangin sie oana kom, Sie mutunfacl moliyukla sin LEUM GOD . LEUM GOD sifacna pa mwe loang lom ac cutlass nutum In loange kom ac sot kutangla nu sum. Mwet lokoalok lom fah tuku putati ye motom, Ac kom fah fotongolosi nu infohk uh.
29è! Y-sơ-ra-ên, ngươi có phước dường bao! Hỡi dân được Đức Giê-hô-va cứu rỗi, ai giống như ngươi? Ngài là cái thuẫn giúp đỡ ngươi, Thanh gươm khiến cho ngươi nên vinh hiển. Kẻ thù nghịch ngươi sẽ đến dua nịnh ngươi; Còn ngươi, ngươi sẽ lấy chân giày đạp các nơi cao của chúng nó.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.