Deuteronomy 33
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Sithaw kami Mosi mah duek tom naah, Israel kaminawk han paek ih tahamhoihaih loe hae tiah oh.
1Vả, nầy là lời chúc phước mà Môi-se, người của Đức Chúa Trời, chúc cho dân Y-sơ-ra-ên, trước khi qua đời.
2Anih mah, Angraeng loe Sinai mae hoiah angzoh, Seir ahmuen hoiah nihcae khaeah angthawk tahang moe, Paran mae hoiah ni baktiah a aengh to tacawt, anih loe kaciim kami sang hato hoi nawnto angzoh; a bantang bang hoiah kangqong hmai to tacawt.
2Người bèn nói: Đức Giê-hô-va đã đến từ Si-na-i, Ngài từ Sê-i-rơ dấy lên trên dân chúng, Chiếu sáng từ núi Pha-ran, Đến từ giữa muôn vàn đấng thánh; Từ tay hữu Ngài phát ra cho họ lửa của luật pháp Ngài.
3Ue, anih loe kaminawk to palung; angmah ih kaciim kaminawk loe na prae ah oh o boih; nihcae loe na khokkung ah akuep o, na lok to tahngaih o boih.
3Ngài thương yêu dân sự, Các thánh của Ngài đều ở trong tay Ngài, Quì xuống chân Ngài, Đặng lãnh những lời của Ngài.
4Jakob ih kaminawk mah qawk ah toep o ih kaalok to Mosi mah kaicae hanah paek.
4Môi-se đã ban một luật pháp cho chúng tôi, Là cơ nghiệp của hội chúng Gia-cốp.
5Israel acaengnawk hoi zaehoikung lu koeknawk nawnto amkhueng o naah, Anih loe Jeshurun nuiah, siangpahrang ah oh.
5Khi các quan trưởng của dân sự hội hiệp, Với những chi phái Y-sơ-ra-ên, Thì Ngài trở nên vua của Giê-su-run.
6Reuben acaeng loe dueh ai ah, hing nasoe, anih ih kaminawk doeh tamsi hmah nasoe.
6Nguyện Ru-bên sống, chớ thác, Dẫu số người của nó sẽ ít đông.
7Judah kawng pongah anih mah, Aw Angraeng, Judah qahhaih lok to tahngai ah; anih to angmah ih kaminawk khaeah hoi ah; anih ih ban loe angmah hanah thacak pae nasoe; anih to misanawk ban thung hoiah abom ah, tiah a thuih.
7Người chúc cho Giu-đa rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, cầu xin Ngài nghe tiếng của Giu-đa, Và đưa người về dân mình; Nguyện tay người binh vực chúng, Xin Chúa đến giúp người đương địch cùng kẻ thù nghịch mình!
8Levi kawng pongah anih mah, Nang ih Thumin hoi Urim loe, Massah ah na tanoek moe, Meribah tui ohhaih ahmuen ah na tanoek ih kaciim kami khaeah om tih.
8Người cũng chúc cho Lê-vi rằng: Thu-mim và u-rim của ngươi vốn thuộc về người tin kính của ngươi, Mà ngươi thử thách tại Ma-sa, Tranh giành với tại nước Mê-ri-ba.
9Anih mah, to kami loe angmah ih amno hoi ampa khaeah ka hnu ai, tiah a naa; anih loe angmah ih nawkamyanawk hoi a caanawk mataeng doeh panoek ai; toe anih loe na lok to tahngaih moe, na lokmaihaih to pazui.
9Lê-vi nói về cha mẹ mình rằng: Tôi không hề thấy cha mẹ; Người không nhận anh em mình, Chẳng biết đến con cái mình. Vì người gìn giữ lời Chúa, Canh chừng sự giao ước của Chúa.
10Nihcae mah Jakob hanah na lokcaekhaih to patuk o tih, Israel kaminawk hanah na kaalok to patuk ueloe, na hmaa ah hmuihoih to suem o tih; na hmaicam nuiah takpum boih paek ih hmai angbawnhaih to suem o tih.
10Họ lấy mạng lịnh của Chúa dạy cho Gia-cốp, Và luật pháp Chúa cho Y-sơ-ra-ên; Họ để hương dưới mũi Ngài, Đặt của lễ thiêu trên bàn thờ Ngài.
11Aw Angraeng, anih ih hmuen to tahamhoihaih paek ah loe, a ban hoiah sak ih hmuen to talawk paeh; anih hnuma moe, tuk han angthawk kaminawk loe angthawk o let han ai ah, kaeng to khaek paeh, tiah a thuih.
11Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban phước cho của cải người, Và nhậm công việc của tay người làm. Xin bẻ nát họng của kẻ dấy nghịch và ghen ghét người, Để chúng nó không thế dấy lên nữa!
12Benjamin kawng pongah anih mah, Angraeng mah palung ih kami loe angmah khaeah ngancuem ah om tih; anih hing nathung Angraeng mah pakaa ueloe, anih loe Angmah ih palaeng salakah khosah tih, tiah a thuih.
12Người chúc về Bên-gia-min rằng: Người mà Đức Giê-hô-va yêu mến Sẽ được ở yên gần bên Ngài. Hằng ngày Đức Giê-hô-va sẽ che chở người, Lập nơi ở Ngài giữa hai vai người.
13Joseph kawng pongah anih mah, nihcae ohhaih prae loe, van ih atho kaom dantui hoi long tlim ah kaom kathuk tuinawk,
13Người chúc về Giô-sép rằng: Xứ người được Đức Giê-hô-va ban phước; Từ trời Ngài giáng xuống cho người ân tứ rất báu, là sương-móc, Những suối của vực thẳm có nước sâu;
14ni mah tacawtsak ih atho kana thingthainawk hoi khrah mah tacawtsak ih atho kana hmuennawk,
14Những huê lợi quí nhất của mặt trời, Hoa quả cực báu của mặt trăng;
15mae kamtak hoi dungzan ah kacak maesomnawk thung hoi tacawt hmuennawk,
15Những vật nhất hạng của núi xưa, Các báu lạ của mấy gò đống đời đời,
16kahoih koek long thung ih hmuennawk, a thungah kaom hmuennawk hoiah tahamhoihaih om nasoe; kabuk thing thungah kaom Kami ih tahmenhaih loe, Joseph lu nui hoi anih ih nawkamyanawk salakah kaom angraeng kami ih lupataeh ah om nasoe.
16Bửu bối của đất, và sự sung mãn nó. Nguyện ơn của Đấng hiện ra trong bụi gai Giáng xuống trên đầu Giô-sép, Và trên trán của chúa anh em người!
17Anih lensawkhaih loe tapen tangsuek maitaw tae baktih, anih ih takii loe kokno takii baktiah oh; to takiinawk hoiah prae kaminawk to long boenghaih ahmuen khoek to nawnto takhueng boih tih; Ephraim acaeng loe sang hato om ueloe, Manasseh ih acaeng loe sangto om tih, tiah a thuih.
17Oai nghiêm người giống như con bò đực đầu lòng; Hai sừng người vốn sừng của trâu! Người lấy sừng ấy báng mọi dân, Cho đến cuối đầu của đất. Đó là hằng muôn của Eùp-ra-im, Aáy là hằng ngàn của Ma-na-se.
18Zebulun kawng pongah anih mah, Zebulun, tasa bang na caeh naah anghoe ah, Issakar nang loe na ohhaih im ah anghoe ah.
18Người chúc về Sa-bu-lôn rằng: Hỡi Sa-bu-lôn, khá vui mừng về cuộc mình đi ra ngoài, Còn ngươi, Y-sa-ca, hãy hớn hở trong các trại mình!
19Nihcae loe kaminawk to mae nuiah kawk ueloe, to mae nuiah toenghaih hoi angbawnhaih to sah o tih; tuipui ih savuet thungah hawk ih, pop parai hmuennawk to tahnutui baktiah nae o tih, tiah a thuih.
19Hai người sẽ gọi các dân tộc lên núi; Tại đó, dâng những của tế lễ công bình; Vì hai người sẽ hút sự dư dật của biển, Và những bửu vật lấp dưới cát.
20Gad kawng pongah anih mah, Gad acaeng lensak kami loe tahamhoih! Gad loe kaipui baktiah oh moe, a ban hoiah lunawk to taprawt pat thaih.
20Người chúc về Gát rằng: Đáng ngợi khen thay Đấng để Gát nơi quảng-khoát, Người nằm nghỉ như một sư tử cái, Và xé cánh tay cùng đầu.
21Hmaloe koek taham loe angmah hanah a qoih, daan sahkungnawk ih taham loe to ah a suek pae; kaminawk zaehoikung kacoehtanawk amkhueng o naah, katoeng Angraeng ih lok hoi Israel kaminawk lokcaekhaih akoepsak hanah anih mah sak pae, tiah a thuih.
21Người đã chọn cho mình phần đầu nhất của xứ, Bởi vì tại đó đã dành phần của đấng lập luật pháp, Và người ở đằng đầu dân sự đi đến. Người đồng lòng với Y-sơ-ra-ên làm xong công bình của Đức Giê-hô-va, Và làm theo những mạng lịnh của Ngài.
22Dan kawng pongah anih mah, Dan loe kaipui ih caa ah oh, anih loe Bashan hoiah angphet tih, tiah a thuih.
22Người chúc về Đan rằng: Đan là một sư tử tơ, Từ Ba-san nhảy xông đến.
23Naphtali kawng pongah anih mah, Angraeng loe anghoehaih hoi tahamhoihaih hoiah koi, Aw Naphtali; niduem hoi aloih bang ih ahmuen to toep ah, tiah a thuih.
23Người chúc về Nép-ta-li rằng: Nép-ta-li hưởng ân huệ cho thỏa nguyện, Và phước lành của Đức Giê-hô-va cho đầy dẫy, Chiếm được phương tây và phương nam.
24Asher kawng pongah anih mah, Asher loe capanawk thungah tahamhoih koek ah oh; anih loe angmah ih nawkamyanawk mah koeh ih kami ah om nasoe loe, a khok to situi thungah nup nasoe.
24Người chúc về A-se rằng: Nguyện cho A-se được phước giữa các con trai Y-sơ-ra-ên; Được đẹp lòng anh em mình, Và được dầm chân mình trong dầu!
25Na khokpanai loe sum, sum kamling hoiah sah ueloe, na hing thung thacak tih.
25Những then cửa người sẽ bằng sắt và đồng, Đời ngươi lâu bao nhiêu, sức mạng ngươi lâu bấy nhiêu.
26Jeshurun Sithaw hoi kanghmong mi doeh om ai; anih loe nang abomh hanah van ah anghnut moe, a lensawkhaih doeh van ranuiah oh.
26è Giê-su-run, không ai giống như Đức Chúa Trời, Là Đấng oai nghi, cỡi trên các từng trời, Trên những đám mây, đặng đến cứu giúp ngươi.
27Dungzan Sithaw loe nang abuephaih ah oh moe, na tlim ah dungzan kacak ban to oh; Anih mah na misanawk to nangmacae hma hoiah na haek pae tih, nihcae to paro oh, tiah a thuih.
27Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ỳ dưới có cánh tay đời đời của Ngài, Ngài đuổi kẻ thù nghịch khỏi trước mặt ngươi, Và phán cùng ngươi rằng: Hãy diệt đi!
28Israel loe ngancuem ah khosah tih; Jakob ih acaeng loe cang, misurtui kapop prae ah angmah bueng om ueloe, angmah ih vannawk hoiah dantui to krah tathuk tih.
28Y-sơ-ra-ên sẽ ở bình an; Suối Gia-cốp phun lên riêng ra Trong một xứ ngũ cốc và rượu; Trời của ngươi nhỏ sương móc xuống.
29Aw Israel, nang loe anghoe kami ah oh! Nang loe Angraeng mah pahlong ih acaeng ah na oh, nang hoi kanghmong kami mi maw kaom? Anih loe nang abomh hanah pakaahaih ah oh moe, na lensawkhaih sumsen ah oh; na misanawk loe na hma ah thazok o; nihcae ih hmuensangnawk to nangmah khok hoiah na tii pae phaeng tih, tiah a thuih.
29è! Y-sơ-ra-ên, ngươi có phước dường bao! Hỡi dân được Đức Giê-hô-va cứu rỗi, ai giống như ngươi? Ngài là cái thuẫn giúp đỡ ngươi, Thanh gươm khiến cho ngươi nên vinh hiển. Kẻ thù nghịch ngươi sẽ đến dua nịnh ngươi; Còn ngươi, ngươi sẽ lấy chân giày đạp các nơi cao của chúng nó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.