Job
Chapter 1
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Uz prae ah Job, tiah kawk ih kami maeto oh; to kami loe coek koi om ai, katoeng kami ah oh; Sithaw zit moe, kahoih ai hmuen ayae koeh kami ah oh.
1Tại trong xứ Uùt-xơ có một người tên là Gióp; người ấy vốn trọn vẹn và ngay thẳng; kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác.
2Anih loe capa sarihto hoi canu thumto sak.
2Người sanh được bảy con trai và ba con gái;
3Tuu sang sarih, kaengkuu hrang sang thum, laikok atok thaih maitawtae cumvai pangato, laa hrang cumvai pangato tawnh moe, tamna paroeai a tawnh; anih loe ni angyae bang ih kaminawk boih thungah kalen koek ah oh.
3có bảy ngàn chiên, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái, và tôi tớ rất nhiều; người ấy lớn hơn hết trong cả dân Đông phương.
4Anih ih capanawk loe saning kruek, angmacae tapenhaih niah angmacae im ah buhraenghaih poih to sak o, to naah a tanuh thumtonawk doeh, nawnto buhcaak hanah kawk o toeng.
4Các con trai người hay đi dự tiệc, đãi thay phiên nhau trong nhà của mỗi người; và sai mời ba chị em gái mình ăn uống chung với mình.
5Job mah ka caanawk loe palungthin thungah Sithaw to kasae thuih o moe, zae o moeng boeh mue, tiah a poek pongah, buhraenghaih poih boeng pacoengah, nihcae to kawk moe, ciimcaisak; nihcae boih hanah hmai angbawnhaih to akhawnbang kruek a sak pae. Job mah to tiah sak toepsoep.
5Xảy khi các ngày yến tiệc xong rồi, Gióp sai người đi dọn các con cái mình cho thanh sạch, thức dậy sớm, dâng của lễ thiêu tùy số chúng nó; vì người nói rằng: Dễ thường các con ta có phạm tội, và trong lòng từ chối Đức Chúa Trời chăng. Gióp hằng làm như vậy.
6Nito naah Sithaw ih caanawk loe Angraeng hmaa ah angphong hanah angzoh o, to naah Setan doeh nihcae salakah angzoh toeng.
6Vả, một ngày kia các con trai của Đức Chúa Trời đến ra mắt Đức Giê-hô-va, và Sa-tan cũng đến trong vòng chúng.
7Angraeng mah Setan khaeah, naa hoiah maw nang zoh? tiah a naa. Setan mah Angraeng khaeah, Long pum ahnuk ahmaa kam het nakung hoiah kang zoh, tiah a naa.
7Đức Giê-hô-va phán hỏi Sa-tan rằng: Ngươi ở đâu đến? Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va rằng: Tôi trải qua đây đó trên đất và dạo chơi tại nơi nó.
8To pacoengah Angraeng mah Setan khaeah, Ka tamna Job ho na poek vai maw? Long nuiah anih baktih kami mi doeh om ai; anih loe coek koi om ai, katoeng kami ah oh, Sithaw to zit moe, kasae hmuen sak koeh ai kami ah oh, tiah a naa.
8Đức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng; nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác?
9Setan mah Angraeng khaeah, Job loe tidoeh na ai ah Sithaw to zit maw?
9Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va rằng: Gióp há kính sợ Đức Chúa Trời luống công sao?
10Anih hoi a imthung takoh, a tawnh ih hmuennawk boih loe sipae baktiah na pakaa pae na ai maw? A toksakhaih nuiah tahamhoihaih na paek pongah, anih loe prae thungah hmuenmae paroeai angraeng boeh.
10Chúa há chẳng dựng hàng rào binh vực ở bốn phía người, nhà người, và mọi vật thuộc về người sao? Chúa đã ban phước cho công việc của tay người và làm cho của cải người thêm nhiều trên đất.
11Toe vaihiah na ban phok ah loe, a tawnh ih hmuennawk boih paro pae ah, anih mah na hmaa roe ah nang to kasae thui tih, tiah a naa.
11Nhưng bây giờ hãy giơ tay Chúa ra, đụng đến hại các vật người có, ắt là người sẽ phỉ báng Chúa trước mặt.
12Angraeng mah Setan khaeah, Khenah, a tawnh ih hmuennawk boih na ban ah oh; toe angmah to loe na ban hoi sui hmah, tiah a naa.
12Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan rằng: Nầy, các vật người có đều phó trong tay ngươi; nhưng chớ tra tay vào mình nó. Sa-tan bèn lui ra khỏi mặt Đức Giê-hô-va.
13Nito naah Job capa hoi canunawk loe amya nongpa kacoeh koek im ah buhcaak o moe, misurtui a naek o nathuem ah,
13Xảy một ngày kia, khi các con trai và con gái người đang ăn và uống rượu trong nhà anh cả chúng nó,
14Job khaeah laicaeh maeto angzoh moe, Na tamnanawk loe maitawtae hoiah laikok atok o moe, a taengah laa hrangnawk rawkcak caak o li naah,
14một sứ giả đến báo tin cho Gióp rằng: Bò đang cày, lừa đang ăn gần bên cạnh,
15Sabean kaminawk to angzoh o moe, tuk o pacoengah, maetawtaenawk hoi laa hrangnawk to lak pae o king; ue, nihcae mah na tamnanawk to sumsen hoiah hum o, nang khaeah tamthang thuih hanah kai khue ni loih, tiah a naa.
15thì dân Sê-ba xông vào chúng nó, đoạt cướp đi, và lấy lưỡi gươm giết các tôi tớ; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
16Anih mah lokthuih li naah, kalah laicaeh maeto angzoh let moe, Van hoiah Sithaw ih hmai krak tathuk moe, nang ih tuunawk hoi na tamnanawk to kangh boih, nang khaeah tamthang thuih hanah kai khue ni loih, tiah a naa.
16Người nầy còn đang nói, thì một người khác đến, báo rằng: Lửa của Đức Chúa Trời từ trên trời giáng xuống thiêu đốt các con chiên và tôi tớ, làm cho tiêu hủy chúng nó đi; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
17Anih mah lokthuih li naah, kalah laicaeh maeto angzoh let moe, Khaldea kaminawk abu thumto ah angzoh o, kaengkuu hrangnawk to lak o moe, hoih o ving boeh, na tamnanawk loe sumsen hoiah hum o; nang khaeah tamthang thuih hanah kai khue ni loih, tiah a naa.
17Người nầy còn đang nói, thì một kẻ khác chạy đến, báo rằng: Dân Canh-đê phân làm ba đạo, xông vào lạc đà, cướp đoạt đi, và lấy lưỡi gươm giết các tôi tớ; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
18Anih mah lokthuih li naah, laicaeh kalah maeto angzoh let, laicaeh mah anih khaeah, Na capa hoi na canunawk loe amya kacoeh koek im ah buhcaak o moe, misurtui naek o nathuem ah,
18Người nầy còn đang nói, thì một kẻ khác chạy đến, báo rằng: Các con trai và con gái ông đang ăn uống tại nơi nhà anh cả của họ,
19khenah, praezaek hoiah takhi to song moe, im to hmuh phaeng, im mah nawktanawk to taeh pongah, nihcae loe duek o boih; nang khaeah tamthang thuih hanah kai khue ni loih, tiah a naa.
19kìa một ngọn gió lớn từ phía bên kia sa mạc thổi đến, làm cho bốn góc nhà rung rinh, nhà sập xuống đè chết các người trẻ tuổi; chỉ một mình tôi thoát khỏi đặng báo tin cho ông.
20Hae lok thaih naah, Job loe angthawk moe, angmah ih kahni to asih, sam to aah moe, long ah tabok hoiah Sithaw to a bok,
20Gióp bèn chổi dậy, xé áo mình, và cạo đầu, đoạn xấp mình xuống đất mà thờ lạy,
21anih mah, Kam no zok thung hoi bangkrai ah kang zoh, bangkrai ah kam laem let han; Angraeng mah ang paek moe, Angraeng mah lak let boeh; Angraeng ih ahmin tahamhoihaih om nasoe, tiah thuih.
21và nói rằng: Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về; Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!
22Anih loe hae baktih tahamsethaih hmuennawk boih to tongh, toe Job loe zaehaih sah ai; Sithaw doeh kasae thui ai.
22Trong mọi sự ấy, Gióp không phạm tội, và chẳng nói phạm thượng cùng Đức Chúa Trời.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.