Job 15
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To naah Taman acaeng Eliphaz mah,
1Ê-li-pha, người Thê-man, đáp rằng:
2palungha kami loe takhi hoi kanghmong lokthuih han oh maw? A zok to ni angyae bang ih takhi hoi koisak han oh maw?
2Người khôn ngoan há đáp bằng lời tri thức hư không, Và phình bụng mình bằng gió đông sao?
3Tidoeh avang ai lok, to tih ai boeh loe atho om ai lok thuih han oh maw?
3Người há có nên lấy lời vô ích mà chữa mình, Dùng câu giảng luận vô dụng mà binh vực sao?.
4Ue, nang loe Sithaw zithaih to na pahnawt sut boeh moe, Sithaw khae lawkthuihaih doeh na pakaa khoep boeh.
4Thật ông hủy điều kính sợ Đức Chúa Trời, Ngăn trở sự suy gẫm trước mặt Ngài.
5Na pakha mah zaehaih to thuih moe, aling thaih kami ih lok to na patoh.
5Vì sự gian ác ông dạy dỗ cho miệng mình nói, Và ông chọn lưỡi của kẻ quỉ quyệt.
6Kai mah zaehaih kang net ai, na pakha mah ni ang net; ue, na palai mah na sethaih to thuih.
6Miệng ông định tội cho ông, chớ chẳng phải tôi; Và môi ông làm chứng dối nghịch cùng ông.
7Nang loe tapen tangsuek kami ah maw na oh? Maenawk sah ai naah sak ah na oh boeh maw?
7Có phải ông sanh ra đầu trước hết chăng? Há đã được dựng nên trước non núi sao?
8Sithaw khae hoi ih tamqu lok to na thaih vai maw? Palunghahaih tawn kami loe nang khue maw?
8Chớ thì ông có nghe điều bàn định trong ý nhiệm của Đức chúa Trời sao? Há chỉ một mình ông được khôn ngoan ư?
9Ka panoek o ai ih hmuen, timaw na panoek? Ka thaih o kop ai ih hmuen, timaw na thai kop?
9Oâng biết chi, mà chúng tôi chẳng biết? Oâng thông hiểu gì mà chúng tôi lại không thông hiểu?
10Nam pa pongah saning coeh, sampok kaminawk kaicae khaeah oh vop.
10Giữa vòng chúng tôi cũng có người tóc bạc, kẻ già cả, Được tuổi cao tác lớn hơn cha của ông.
11Sithaw pathloephaih lok to na khawt ai vop maw? Hawk ih hmuen na suek vop maw?
11Sự an ủi của Đức chúa Trời, và lời êm dịu nói cho ông nghe, Há là điều nhỏ mọn cho ông sao?
12Tipongah palung koehhaih to na paroi moe, miktamai hoiah mik na padai loe?
12Nhân sao lòng ông bức tức, Và mắt ông ngó chớp lách?
13To tiah na oh pongah na ai maw Sithaw koeh ai ih hmuen to na sak moe, na pakha thung hoiah lok na tacawtsak?
13Cớ gì mà tâm thần ông phản đối cùng Đức Chúa Trời, Khiến những lời dường ấy ra khỏi miệng ông?
14Kami loe timaw, anih loe ciim thai tih maw? Nongpata mah tapen ih kami loe toeng thai tih maw?
14Loài người là chi, mà lại là thanh sạch? Kẻ do người nữ sanh ra là gì, mà lại là công bình?
15Khenah, Sithaw loe angmah ih kaciim kaminawk mataeng doeh oep ai; ue, a hmaa ah loe vannawk doeh ciim ai.
15Kìa, Đức Chúa Trời không tin cậy các thánh đồ Ngài, Đến đỗi các từng trời cũng chẳng trong sạch trước mặt Ngài thay:
16To tiah nahaeloe zaehaih tui baktih kanae, panuet thok kami cae loe kawkruk maw amhnong tih?
16Phương chi một người gớm ghiếc và hư nát, Kẻ hay uống gian ác như nước!
17Tahngai ah, kang thuih han vop; ka hnuk ih hmuen to kang thuih han vop;
17Tôi sẽ dạy ông, ông hãy nghe tôi; Tôi sẽ thuật cho ông điều tôi đã thấy,
18palungha kaminawk loe, ampanawk khae hoi hak ih hmuennawk to angphat ai ah thuih o:
18Là điều kẻ khôn ngoan tỏ ra theo tổ phụ mình, Không giấu giếm;
19nihcae acaeng han khue ni prae to paek, nihcae salakah acaeng kalah mi doeh om o ai.
19Xứ đã được ban cho chúng mà thôi, Không có người ngoại bang nào được vào giữa bọn họ:
20Kasae kami loe a hing thung patangkhang, pacaekthlaek thaih kami loe a hing thung karai tong han ih saningnawk to panoek ai.
20Trọn đời người hung ác bị đau đớn cực lòng, Số ít năm để dành cho kẻ hà hiếp.
21Anih ih naa loe zithaih lok hoiah koi; khosak hoih nathuem ah, a nuiah amrohaih to phak.
21Tiếng hoảng kinh vang nơi lỗ tai người; Đang chừng lợi đặt, kẻ phá hoại sẽ xông vào người.
22Anih loe vinghaih thung hoi loih hanah oephaih tawn ai; sumsen ni a zing sut boeh.
22Người tưởng không ra khỏi tăm tối được, Và có gươm rình giết người đi.
23Anih loe amhet rumram moe, caaknaek to pakrong; a nuiah pha han koi vinghaih ani loe zoi boeh, tiah anih mah panoek.
23Người đi chỗ nầy qua nơi nọ để tìm bánh, mà rằng: Bánh tìm ở đâu? Người biết rằng ngày tăm tối đã sẵn bên mình.
24Raihaih hoi palungboenghaih mah anih to tasoehsak moe, siangpahrang mah misatuk han amsakcoek baktih toengah, raihaih hoi palungboenghaih mah anih to pazawk.
24Sự gian nan buồn thảm làm cho người kinh hãi, Xông áp vào người như một vua sẵn sàng chinh chiến
25Anih mah Sithaw to ban payangh thuih moe, Thacak Sithaw ih lok aek hanah tha pathok.
25Vì người có giơ tay lên chống cự Đức Chúa Trời, Và cư xử cách kiêu ngạo với Đấng Toàn năng.
26Kathah parai misa angvaenghaih aphawnawk to angkhuk moe, Sithaw to a hmang;
26Người núp dưới gu khiên, ngước thẳng cổ, và xông đến Chúa;
27anih ih mikhmai loe thawk hruk moe, a kaeng ih ngan doeh tasa bangah tacawt dok.
27Vì người lấy sự phì béo che mặt mình, Làm cho hai hông mình ra mập mạp.
28Anih loe kamro tangcae vangpuinawk, mi mah doeh om haih ai ih, kamtimh tom imnawk ah ni khosak.
28Người đã ở những thành bị phá hoại, ỳ những nhà bỏ hoang, gần trở nên đổ đống;
29Anih loe angraeng thai mak ai, anih angraenghaih doeh cak mak ai; long nui khosak naah a tawnh ih hmuennawk doeh pung mak ai.
29Người sẽ không trở nên giàu; của cải người cũng sẽ chẳng bền lâu, Và sản nghiệp người sẽ chẳng lan ra trên đất.
30Anih loe vinghaih thung hoi loih thai mak ai; anih ih tanghangnawk loe hmai mah kang ueloe, Sithaw pakha thung ih takhi mah hmut phaeng tih.
30Người sẽ chẳng được ra khỏi tối tăm; Ngọn lửa làm khô héo chồi của người, Và người sẽ bị hơi thở miệng Chúa đem đi mất.
31Avang ai hmuen oephaih hoiah angmah hoi angmah to angling hmah nasoe, to tih ai nahaeloe avang ai atho to ni anih mah hnu tih.
31Người chớ nên cậy sự hư không mà bị lừa dối; Vì sự hư không sẽ là phần thưởng của người.
32Anih loe atue pha ai naah azaem ueloe, tanghang doeh tacawt mak ai boeh.
32Sự nầy sẽ trọn vẹn trước nhựt kỳ người chưa xảy đến, Còn các nhành người sẽ chẳng xanh tươi.
33Anih loe hmin ai naah pakhrik ving ih misurthaih baktih, apawk kangmuen olive thingkung baktiah ni om tih.
33Người bỏ quây trái cây xanh mình như một cây nho; Người làm rụng hoa mình như cây Ô li-ve.
34Sithaw tidoeh sah ai kaminawk loe azaem o tih; bokhaih tangqum koeh kaminawk ih kahni im loe hmai mah kang tih.
34Vì dòng dõi kẻ vô đạo không sanh sản, Lửa sẽ tiêu diệt nhà trại kẻ ăn hối lộ.
35Nihcae loe raihaih to zok ah pomh o moe, tidoeh avang ai caa to tapen o; nihcae ih zok loe alinghaih to ni pomh o, tiah a naa.
35Họ thọ thai sự ác, bèn sanh ra điều hại tàn, Lòng họ sắm sẵn những chước gian.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.