Ijob 15
Londona Biblio (Esperanto, 1910)Translation
Londona Biblio (Esperanto, 1910)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ekparolis Elifaz, la Temanano, kaj diris:
1Ê-li-pha, người Thê-man, đáp rằng:
2Ĉu saĝulo povas respondi per ventaj opinioj, Kaj plenigi sian ventron per sensencaĵoj?
2Người khôn ngoan há đáp bằng lời tri thức hư không, Và phình bụng mình bằng gió đông sao?
3Vi disputas per vortoj senutilaj, Kaj per paroloj, kiuj nenion helpas.
3Người há có nên lấy lời vô ích mà chữa mình, Dùng câu giảng luận vô dụng mà binh vực sao?.
4Vi forigas la timon, Kaj senvalorigas preĝon antaŭ Dio.
4Thật ông hủy điều kính sợ Đức Chúa Trời, Ngăn trở sự suy gẫm trước mặt Ngài.
5Ĉar via malbonago instigas vian buŝon, Kaj vi elektis stilon de maliculoj.
5Vì sự gian ác ông dạy dỗ cho miệng mình nói, Và ông chọn lưỡi của kẻ quỉ quyệt.
6Vin kondamnas via buŝo, ne mi; Kaj viaj lipoj atestas kontraŭ vi.
6Miệng ông định tội cho ông, chớ chẳng phải tôi; Và môi ông làm chứng dối nghịch cùng ông.
7Ĉu vi naskiĝis la unua homo? Ĉu vi estas kreita pli frue ol la altaĵoj?
7Có phải ông sanh ra đầu trước hết chăng? Há đã được dựng nên trước non núi sao?
8Ĉu vi aŭdis la sekretan decidon de Dio, Kaj alkaptis al vi la saĝon?
8Chớ thì ông có nghe điều bàn định trong ý nhiệm của Đức chúa Trời sao? Há chỉ một mình ông được khôn ngoan ư?
9Kion vi scias tian, kion ni ne scias? Kion vi komprenas tian, kio al ni mankas?
9Oâng biết chi, mà chúng tôi chẳng biết? Oâng thông hiểu gì mà chúng tôi lại không thông hiểu?
10Inter ni estas grizuloj kaj maljunuloj, Kiuj vivis pli longe ol via patro.
10Giữa vòng chúng tôi cũng có người tóc bạc, kẻ già cả, Được tuổi cao tác lớn hơn cha của ông.
11Ĉu tiel malmulte valoras por vi la konsoloj de Dio Kaj vorto kvieta?
11Sự an ủi của Đức chúa Trời, và lời êm dịu nói cho ông nghe, Há là điều nhỏ mọn cho ông sao?
12Kial vin tiel levas via koro, Kaj kial tiel palpebrumas viaj okuloj,
12Nhân sao lòng ông bức tức, Và mắt ông ngó chớp lách?
13Ke vi direktas kontraŭ Dion vian koleron, Kaj elirigis el via buŝo tiajn vortojn?
13Cớ gì mà tâm thần ông phản đối cùng Đức Chúa Trời, Khiến những lời dường ấy ra khỏi miệng ông?
14Kio estas homo, ke li povus esti pura Kaj ke naskito de virino povus esti prava?
14Loài người là chi, mà lại là thanh sạch? Kẻ do người nữ sanh ra là gì, mà lại là công bình?
15Vidu, inter Liaj sanktuloj ne ĉiuj estas fidindaj, Kaj la ĉielo ne estas pura en Liaj okuloj:
15Kìa, Đức Chúa Trời không tin cậy các thánh đồ Ngài, Đến đỗi các từng trời cũng chẳng trong sạch trước mặt Ngài thay:
16Des pli homo, abomeninda kaj malbona, Kiu trinkas malbonagojn kiel akvon.
16Phương chi một người gớm ghiếc và hư nát, Kẻ hay uống gian ác như nước!
17Mi montros al vi, aŭskultu min; Kaj kion mi vidis, tion mi rakontos,
17Tôi sẽ dạy ông, ông hãy nghe tôi; Tôi sẽ thuật cho ông điều tôi đã thấy,
18Kion saĝuloj diris kaj ne kaŝis antaŭ siaj patroj,
18Là điều kẻ khôn ngoan tỏ ra theo tổ phụ mình, Không giấu giếm;
19Al kiuj, al ili solaj, estis donita la tero, Kaj fremdulo ne trairis meze de ili:
19Xứ đã được ban cho chúng mà thôi, Không có người ngoại bang nào được vào giữa bọn họ:
20Dum sia tuta vivo malpiulo estas maltrankvila, Kaj la nombro de la jaroj de tirano estas kaŝita antaŭ li;
20Trọn đời người hung ác bị đau đớn cực lòng, Số ít năm để dành cho kẻ hà hiếp.
21Teruroj sonas en liaj oreloj; Meze de paco venas sur lin rabisto.
21Tiếng hoảng kinh vang nơi lỗ tai người; Đang chừng lợi đặt, kẻ phá hoại sẽ xông vào người.
22Li ne esperas, ke li saviĝos el mallumo; Kaj li serĉas ĉirkaŭe glavon.
22Người tưởng không ra khỏi tăm tối được, Và có gươm rình giết người đi.
23Li vagadas, serĉante panon; Li scias, ke preta estas en lia mano la tago de mallumo.
23Người đi chỗ nầy qua nơi nọ để tìm bánh, mà rằng: Bánh tìm ở đâu? Người biết rằng ngày tăm tối đã sẵn bên mình.
24Teruras lin mizero kaj premateco, Venkobatas lin kiel reĝo, pretiĝinta por batalo;
24Sự gian nan buồn thảm làm cho người kinh hãi, Xông áp vào người như một vua sẵn sàng chinh chiến
25Pro tio, ke li etendis sian manon kontraŭ Dion Kaj kontraŭstaris al la Plejpotenculo,
25Vì người có giơ tay lên chống cự Đức Chúa Trời, Và cư xử cách kiêu ngạo với Đấng Toàn năng.
26Kuris kontraŭ Lin kun fiera kolo, Kun dikaj dorsoj de siaj ŝildoj.
26Người núp dưới gu khiên, ngước thẳng cổ, và xông đến Chúa;
27Li kovris sian vizaĝon per graso Kaj metis sebon sur siajn lumbojn.
27Vì người lấy sự phì béo che mặt mình, Làm cho hai hông mình ra mập mạp.
28Li loĝas en urboj ruinigitaj, En domoj ne loĝataj, Destinitaj esti ŝtonamasoj.
28Người đã ở những thành bị phá hoại, ỳ những nhà bỏ hoang, gần trở nên đổ đống;
29Li ne restos riĉa, lia bonstato ne teniĝos, Kaj lia havaĵo ne disvastiĝos sur la tero.
29Người sẽ không trở nên giàu; của cải người cũng sẽ chẳng bền lâu, Và sản nghiệp người sẽ chẳng lan ra trên đất.
30Li ne forkliniĝos de mallumo; Flamo velksekigos liajn branĉojn, Kaj Li forigos lin per la blovo de Sia buŝo.
30Người sẽ chẳng được ra khỏi tối tăm; Ngọn lửa làm khô héo chồi của người, Và người sẽ bị hơi thở miệng Chúa đem đi mất.
31La erarinto ne fidu vantaĵon, Ĉar vanta estos lia rekompenco.
31Người chớ nên cậy sự hư không mà bị lừa dối; Vì sự hư không sẽ là phần thưởng của người.
32Antaŭtempe li finiĝos, Kaj lia branĉo ne estos verda.
32Sự nầy sẽ trọn vẹn trước nhựt kỳ người chưa xảy đến, Còn các nhành người sẽ chẳng xanh tươi.
33Lia nematura bero estos deŝirita, kiel ĉe vinbertrunko; Kaj lia floro defalos, kiel ĉe olivarbo.
33Người bỏ quây trái cây xanh mình như một cây nho; Người làm rụng hoa mình như cây Ô li-ve.
34Ĉar la anaro de la hipokrituloj senhomiĝos; Kaj fajro ekstermos la tendojn de tiuj, kiuj prenas subaĉeton.
34Vì dòng dõi kẻ vô đạo không sanh sản, Lửa sẽ tiêu diệt nhà trại kẻ ăn hối lộ.
35Ili gravediĝis per malpiaĵo kaj naskis pekon, Kaj ilia ventro pretigas malicaĵon.
35Họ thọ thai sự ác, bèn sanh ra điều hại tàn, Lòng họ sắm sẵn những chước gian.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.