Ijob 36
Londona Biblio (Esperanto, 1910)Translation
Londona Biblio (Esperanto, 1910)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kaj plue parolis Elihu, kaj diris:
1Ê-li-hu nói tiếp rằng:
2Atendu ankoraŭ iom; mi montros al vi, Ĉar mi havas ankoraŭ kion paroli pro Dio.
2Xin hãy nhịn tôi một chút, tôi sẽ chỉ cho ông; Vì tôi còn những lời binh vực Đức Chúa Trời.
3Mi prenos mian scion de malproksime, Kaj mi montros, ke mia Kreinto estas prava.
3Tôi sẽ đem đến từ xa điều tôi hiểu biết, Và xưng tỏ sự công bình của Đấng Tạo hóa tôi.
4Ĉar vere miaj vortoj ne estas mensogaj; Homo sincera estas antaŭ vi.
4Quả hẳn các lời luận tôi chẳng phải giả dối; Đấng vốn trọn vẹn về tri thức đang ở cùng ông.
5Vidu, Dio estas potenca, kaj tamen Li neniun malŝatas; Li estas potenca per la forto de la koro.
5Kìa, Đức Chúa Trời có quyền năng, không khinh bỉ ai; Trí huệ Ngài rất rộng lớn.
6Al malpiulo Li ne permesas vivi, Kaj al mizeruloj Li donas justecon.
6Ngài chẳng bảo tồn mạng sống của kẻ gian ác, Nhưng xử đoán công bình cho kẻ khổ nạn.
7Li ne forturnas de virtuloj Siajn okulojn, Sed kun reĝoj sur trono Li sidigas ilin por ĉiam, Por ke ili estu altaj.
7Ngài chẳng xây mặt khỏi người công bình; Song Ngài khiến họ đồng ngồi cùng các vua trên ngôi mãi mãi, Và họ được cao trọng.
8Kaj se ili estas ligitaj per ĉenoj, Malliberigitaj mizere per ŝnuroj,
8Nếu họ phải mang xiềng xích, Và bị dây gian truân vấn vướng,
9Tiam Li montras al ili iliajn farojn kaj kulpojn, Kiel grandaj ili estas.
9Thì Ngài chỉ tỏ cho họ công việc mình đã làm, Các tội lỗi và tánh hạnh kiêu ngạo của họ.
10Li malfermas ilian orelon por la moralinstruo, Kaj diras, ke ili deturnu sin de malbonagoj.
10Ngài cũng mở lỗ tai của chúng cho nghe lời sửa dạy, Khuyên họ trở lại bỏ điều gian ác.
11Se ili obeas kaj servas al Li, Tiam ili finas siajn tagojn en bono Kaj siajn jarojn en stato agrabla;
11Nếu chúng vâng nghe và phục sự Ngài, Thì các ngày chúng sẽ được may mắn, Và những năm chúng được sự vui sướng.
12Sed se ili ne obeas, Tiam ili pereas per glavo Kaj mortas en malprudento.
12Nhưng nếu họ không khứng nghe theo, ắt sẽ bị gươm giết mất, Và chết không hiểu biết gì.
13La hipokrituloj portas en si koleron; Ili ne vokas, kiam Li ilin ligis;
13Lòng giả hình tích chứa sự thạnh nộ; Khi Đức Chúa Trời bắt xiềng chúng, chúng chẳng kêu cứu.
14Ilia animo mortas en juneco, Kaj ilia vivo pereas inter la malĉastuloj.
14Chúng chết đang buổi thanh xuân; Đời chúng bị hư mất trong bọn gian dâm.
15Li savas la suferanton en lia mizero, Kaj per la sufero Li malfermas ilian orelon.
15Đức Chúa Trời dùng sự hoạn nạn mà cứu kẻ bị hoạn nạn, Và nhờ sự hà hiếp mà mở lỗ tai của người.
16Ankaŭ vin Li elkondukus el la suferoj En spacon vastan, kie ne ekzistas premateco; Kaj vi havus pacon ĉe via tablo, plena de grasaĵoj.
16Ngài cũng chắc đã muốn dụ ông khỏi hoạn nạn, Đặt ông nơi khoảng khoát, chẳng còn sự cực lòng; Còn các món ăn dọn nơi bàn ông, tất đều được đầy mỡ béo.
17Sed vi fariĝis plena de kulpoj de malvirtulo; Kulpo kaj juĝo tenas sin kune.
17Nhưng ông đầy dẫy sự nghị luận của kẻ ác; Sự xét đoán và sự hình phạt chắc sẽ hãm bắt ông.
18Via kolero ne forlogu vin al mokado, Kaj grandeco de elaĉeto ne deklinu vin.
18Chớ để cơn giận giục ông chống cự cùng sự sửa phạt; Đừng lầm lạc vì cớ giá bội thường lớn quá.
19Ĉu Li atentos vian riĉecon? Ne, nek oron, nek forton aŭ potencon.
19Chớ thì sự giàu có ông và các thế lực của ông, Có thể cứu ông khỏi sự hoạn nạn sao?
20Ne strebu al tiu nokto, Kiu forigas popolojn de ilia loko.
20Chớ ước ao đêm tối, Là lúc dân tộc bị cất đi khỏi chỗ mình.
21Gardu vin, ne kliniĝu al malpieco; Ĉar tion vi komencis pro la mizero.
21Khá giữ lấy mình, chớ xây về tội ác; Vì ấy là điều ông ưa chọn hơn sự hoạn nạn.
22Vidu, Dio estas alta en Sia forto. Kiu estas tia instruanto, kiel Li?
22Kìa, Đức Chúa Trời dùng quyền năng mà làm việc cách cao cả, Có giáo sư nào giống như Ngài chăng?
23Kiu povas preskribi al Li vojon? Kaj kiu povas diri: Vi agis maljuste?
23Ai có chỉ dạy cho Ngài biết con đường của Ngài? Và ai nói rằng: Chúa có làm quấy?
24Memoru, ke vi honoru Liajn farojn, Pri kiuj kantas la homoj.
24Hãy nhớ ngợi khen các công việc Chúa, Mà loài người thường có ca tụng.
25Ĉiuj homoj ilin vidas; Homo rigardas ilin de malproksime.
25Mọi người đều đã ngoạn xem công việc ấy, Và loài người từ xa nhìn thấy nó.
26Vidu, Dio estas granda kaj nekonata; La nombro de Liaj jaroj estas neesplorebla.
26Phải, Đức Chúa Trời là cực đại, chúng ta không biết được Ngài; Số năm của Ngài thọ không ai kể xiết được.
27Kiam Li malgrandigas la gutojn de akvo, Ili verŝiĝas pluve el la nebulo;
27Vì Ngài thâu hấp các giọt nước: Rồi từ sa mù giọt nước ấy bèn hóa ra mưa,
28Verŝiĝas la nuboj Kaj gutas sur multe da homoj.
28Đám mây đổ mưa ấy ra, Nó từ giọt sa xuống rất nhiều trên loài người.
29Kaj kiam Li intencas etendi la nubojn Kiel tapiŝojn de Sia tendo,
29ai có thể hiểu được cách mây giăng ra, Và tiếng lôi đình của nhà trại Ngài?
30Tiam Li etendas sur ilin Sian lumon Kaj kovras la radikojn de la maro.
30Kìa, Chúa bủa ánh sáng ra chung quanh Ngài, Và che lấp đáy biển.
31Ĉar per ili Li juĝas la popolojn Kaj donas ankaŭ manĝaĵon abunde.
31Vì nhờ những điều ấy Ngài xét đoán các dân tộc; Ngài ban cho lương thực nhiều.
32Per la manoj Li kovras la lumon Kaj ordonas al ĝi aperi denove.
32Ngài giấu sấm sét trong tay Ngài, Và truyền nó phải đánh nơi nào.
33Antaŭdiras pri ĝi ĝia bruo, Kaj eĉ la brutaroj, kiam ĝi alproksimiĝas.
33Tiếng sấm sét báo cáo việc Ngài, Và chính súc vật cũng đoán điềm dông mưa gần đến.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.