Job 36
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Addens quoque Eliu, hæc locutus est:
1Ê-li-hu nói tiếp rằng:
2[Sustine me paululum, et indicabo tibi: adhuc enim habeo quod pro Deo loquar.
2Xin hãy nhịn tôi một chút, tôi sẽ chỉ cho ông; Vì tôi còn những lời binh vực Đức Chúa Trời.
3Repetam scientiam meam a principio, et operatorem meum probabo justum.
3Tôi sẽ đem đến từ xa điều tôi hiểu biết, Và xưng tỏ sự công bình của Đấng Tạo hóa tôi.
4Vere enim absque mendacio sermones mei, et perfecta scientia probabitur tibi.
4Quả hẳn các lời luận tôi chẳng phải giả dối; Đấng vốn trọn vẹn về tri thức đang ở cùng ông.
5Deus potentes non abjicit, cum et ipse sit potens:
5Kìa, Đức Chúa Trời có quyền năng, không khinh bỉ ai; Trí huệ Ngài rất rộng lớn.
6sed non salvat impios, et judicium pauperibus tribuit.
6Ngài chẳng bảo tồn mạng sống của kẻ gian ác, Nhưng xử đoán công bình cho kẻ khổ nạn.
7Non auferet a justo oculos suos: et reges in solio collocat in perpetuum, et illi eriguntur.
7Ngài chẳng xây mặt khỏi người công bình; Song Ngài khiến họ đồng ngồi cùng các vua trên ngôi mãi mãi, Và họ được cao trọng.
8Et si fuerint in catenis, et vinciantur funibus paupertatis,
8Nếu họ phải mang xiềng xích, Và bị dây gian truân vấn vướng,
9indicabit eis opera eorum, et scelera eorum, quia violenti fuerunt.
9Thì Ngài chỉ tỏ cho họ công việc mình đã làm, Các tội lỗi và tánh hạnh kiêu ngạo của họ.
10Revelabit quoque aurem eorum, ut corripiat: et loquetur, ut revertantur ab iniquitate.
10Ngài cũng mở lỗ tai của chúng cho nghe lời sửa dạy, Khuyên họ trở lại bỏ điều gian ác.
11Si audierint et observaverint, complebunt dies suos in bono, et annos suos in gloria:
11Nếu chúng vâng nghe và phục sự Ngài, Thì các ngày chúng sẽ được may mắn, Và những năm chúng được sự vui sướng.
12si autem non audierint, transibunt per gladium, et consumentur in stultitia.
12Nhưng nếu họ không khứng nghe theo, ắt sẽ bị gươm giết mất, Và chết không hiểu biết gì.
13Simulatores et callidi provocant iram Dei, neque clamabunt cum vincti fuerint.
13Lòng giả hình tích chứa sự thạnh nộ; Khi Đức Chúa Trời bắt xiềng chúng, chúng chẳng kêu cứu.
14Morietur in tempestate anima eorum, et vita eorum inter effeminatos.
14Chúng chết đang buổi thanh xuân; Đời chúng bị hư mất trong bọn gian dâm.
15Eripiet de angustia sua pauperem, et revelabit in tribulatione aurem ejus.
15Đức Chúa Trời dùng sự hoạn nạn mà cứu kẻ bị hoạn nạn, Và nhờ sự hà hiếp mà mở lỗ tai của người.
16Igitur salvabit te de ore angusto latissime, et non habente fundamentum subter se: requies autem mensæ tuæ erit plena pinguedine.
16Ngài cũng chắc đã muốn dụ ông khỏi hoạn nạn, Đặt ông nơi khoảng khoát, chẳng còn sự cực lòng; Còn các món ăn dọn nơi bàn ông, tất đều được đầy mỡ béo.
17Causa tua quasi impii judicata est: causam judiciumque recipies.
17Nhưng ông đầy dẫy sự nghị luận của kẻ ác; Sự xét đoán và sự hình phạt chắc sẽ hãm bắt ông.
18Non te ergo superet ira ut aliquem opprimas: nec multitudo donorum inclinet te.
18Chớ để cơn giận giục ông chống cự cùng sự sửa phạt; Đừng lầm lạc vì cớ giá bội thường lớn quá.
19Depone magnitudinem tuam absque tribulatione, et omnes robustos fortitudine.
19Chớ thì sự giàu có ông và các thế lực của ông, Có thể cứu ông khỏi sự hoạn nạn sao?
20Ne protrahas noctem, ut ascendant populi pro eis.
20Chớ ước ao đêm tối, Là lúc dân tộc bị cất đi khỏi chỗ mình.
21Cave ne declines ad iniquitatem: hanc enim cœpisti sequi post miseriam.
21Khá giữ lấy mình, chớ xây về tội ác; Vì ấy là điều ông ưa chọn hơn sự hoạn nạn.
22Ecce Deus excelsus in fortitudine sua, et nullus ei similis in legislatoribus.
22Kìa, Đức Chúa Trời dùng quyền năng mà làm việc cách cao cả, Có giáo sư nào giống như Ngài chăng?
23Quis poterit scrutari vias ejus? aut quis potest ei dicere: Operatus es iniquitatem?
23Ai có chỉ dạy cho Ngài biết con đường của Ngài? Và ai nói rằng: Chúa có làm quấy?
24Memento quod ignores opus ejus, de quo cecinerunt viri.
24Hãy nhớ ngợi khen các công việc Chúa, Mà loài người thường có ca tụng.
25Omnes homines vident eum: unusquisque intuetur procul.
25Mọi người đều đã ngoạn xem công việc ấy, Và loài người từ xa nhìn thấy nó.
26Ecce Deus magnus vincens scientiam nostram: numerus annorum ejus inæstimabilis.
26Phải, Đức Chúa Trời là cực đại, chúng ta không biết được Ngài; Số năm của Ngài thọ không ai kể xiết được.
27Qui aufert stillas pluviæ, et effundit imbres ad instar gurgitum,
27Vì Ngài thâu hấp các giọt nước: Rồi từ sa mù giọt nước ấy bèn hóa ra mưa,
28qui de nubibus fluunt quæ prætexunt cuncta desuper.
28Đám mây đổ mưa ấy ra, Nó từ giọt sa xuống rất nhiều trên loài người.
29Si voluerit extendere nubes quasi tentorium suum,
29ai có thể hiểu được cách mây giăng ra, Và tiếng lôi đình của nhà trại Ngài?
30et fulgurare lumine suo desuper, cardines quoque maris operiet.
30Kìa, Chúa bủa ánh sáng ra chung quanh Ngài, Và che lấp đáy biển.
31Per hæc enim judicat populos, et dat escas multis mortalibus.
31Vì nhờ những điều ấy Ngài xét đoán các dân tộc; Ngài ban cho lương thực nhiều.
32In manibus abscondit lucem, et præcepit ei ut rursus adveniat.
32Ngài giấu sấm sét trong tay Ngài, Và truyền nó phải đánh nơi nào.
33Annuntiat de ea amico suo, quod possessio ejus sit, et ad eam possit ascendere.]
33Tiếng sấm sét báo cáo việc Ngài, Và chính súc vật cũng đoán điềm dông mưa gần đến.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.