Job
Chapter 13
Clementine Vulgate, 1598
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Job 13

Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1[Ecce omnia hæc vidit oculus meus, et audivit auris mea, et intellexi singula.
1Nầy, mắt ta đã thấy các điều đó, Tai ta có nghe và hiểu đến.
2Secundum scientiam vestram et ego novi: nec inferior vestri sum.
2Điều gì các ngươi biết, ta cũng biết với. Ta chẳng kém hơn các ngươi đâu.
3Sed tamen ad Omnipotentem loquar, et disputare cum Deo cupio:
3Song ta muốn thưa với Đấng Toàn năng, Ước ao biện luận cùng Đức Chúa Trời:
4prius vos ostendens fabricatores mendacii, et cultores perversorum dogmatum.
4Còn các ngươi là kẻ đúc rèn lời dối trá; Thảy đều là thầy thuốc không ra gì hết.
5Atque utinam taceretis, ut putaremini esse sapientes.
5Chớ chi các ngươi nín lặng! Đó sẽ là sự khôn ngoan của các ngươi.
6Audite ergo correptionem meam, et judicium labiorum meorum attendite.
6Vậy, hãy nghe lời biện luận ta, Khá chăm chỉ về lẽ đối nại của miệng ta.
7Numquid Deus indiget vestro mendacio, ut pro illo loquamini dolos?
7Có phải các ngươi dám nói lời bất công với Đức Chúa Trời chăng? Các ngươi há sẽ nói điều dối trá vì Ngài sao?
8numquid faciem ejus accipitis, et pro Deo judicare nitimini?
8Các ngươi há muốn tây vị Đức Chúa Trời, Và cãi lẽ cho Ngài sao?
9aut placebit ei quem celare nihil potest? aut decipietur, ut homo, vestris fraudulentiis?
9Nếu Ngài dò xét lòng các ngươi, các ngươi vừa ý điều đó sao? Các ngươi há muốn phỉnh gạt Ngài như phỉnh gạt loài người sao?
10Ipse vos arguet, quoniam in abscondito faciem ejus accipitis.
10Quả thật Ngài sẽ trách phạt các ngươi. Nếu các ngươi lén tây vị người.
11Statim ut se commoverit, turbabit vos, et terror ejus irruet super vos.
11Chớ thì sự oai nghi Ngài sẽ chẳng khiến các ngươi bối rối sao? Sự hoảng kinh Ngài há sẽ chẳng giáng trên các ngươi ư,
12Memoria vestra comparabitur cineri, et redigentur in lutum cervices vestræ.
12Châm ngôn của các ngươi chỉ như châm ngôn tro bụi; Những thành lũy của các ngươi thật là thành lũy bùn đất,
13Tacete paulisper, ut loquar quodcumque mihi mens suggesserit.
13Vậy, hãy nín đi, khá lìa khỏi ta, để ta biện luận, Mặc dầu xảy đến cho ta điều gì.
14Quare lacero carnes meas dentibus meis, et animam meam porto in manibus meis?
14Cớ sao ta lấy răng cắn thịt mình Và liều sanh mạng mình?
15Etiam si occiderit me, in ipso sperabo: verumtamen vias meas in conspectu ejus arguam.
15Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài; Nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài.
16Et ipse erit salvator meus: non enim veniet in conspectu ejus omnis hypocrita.
16Chính điều đó sẽ là sự cứu rỗi ta; Vì một kẻ vô đạo chẳng được đến trước mặt Chúa.
17Audite sermonem meum, et ænigmata percipite auribus vestris.
17Hãy nghe kỹ càng các lời ta, Lời trần cáo ta khá lọt vào tai các ngươi!
18Si fuero judicatus, scio quod justus inveniar.
18Kìa, ta đã bày tỏ việc cáo tụng ta, Ta biết ta sẽ được xưng công bình.
19Quis est qui judicetur mecum? veniat: quare tacens consumor?
19Có ai sẽ tranh luận với ta chăng? Ví bằng ta nín lặng, quả ta tắt hơi.
20Duo tantum ne facias mihi, et tunc a facie tua non abscondar:
20Có hai điều cầu xin Chúa chớ làm cho tôi, Thì tôi sẽ không ẩn mình tôi khỏi mặt Chúa:
21manum tuam longe fac a me, et formido tua non me terreat.
21Xin Chúa rút tay Chúa khỏi mình tôi, Và sự hoảng kinh của Chúa chớ làm bối rối tôi nữa.
22Voca me, et ego respondebo tibi: aut certe loquar, et tu responde mihi.
22Đoạn, hãy gọi tôi, tôi sẽ thưa lại, Hoặc tôi nói thì Chúa sẽ trả lời cho tôi.
23Quantas habeo iniquitates et peccata? scelera mea et delicta ostende mihi.
23Số gian ác và tội lỗi tôi bao nhiêu? Cầu Chúa cho tôi biết sự phạm luật và tội lỗi tôi.
24Cur faciem tuam abscondis, et arbitraris me inimicum tuum?
24Nhân sao Chúa giấu mặt Chúa, Và cầm bằng tôi là kẻ cừu địch Chúa?
25Contra folium, quod vento rapitur, ostendis potentiam tuam, et stipulam siccam persequeris:
25Chúa há muốn khiến kinh hãi chiếc lá bị gió đưa đi, Và đuổi theo cộng rạ khô sao?
26scribis enim contra me amaritudines, et consumere me vis peccatis adolescentiæ meæ.
26Vì Chúa làm cho tôi bị điều cay đắng, Và khiến cho tôi gánh các tội ác phạm lúc thanh niên,
27Posuisti in nervo pedem meum, et observasti omnes semitas meas, et vestigia pedum meorum considerasti:
27Đặt chân tôi trong xiềng tỏa, Xét các đường lối tôi, Và ghi ranh hạng chung quanh bước chân tôi,
28qui quasi putredo consumendus sum, et quasi vestimentum quod comeditur a tinea.]
28Còn tôi bị bể nát ra như vật mục, Như một cái áo bị sâu cắn nát vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.