Job 21
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Respondens autem Job, dixit:
1Gióp đáp rằng:
2[Audite, quæso, sermones meos, et agite pœnitentiam.
2Hãy nghe kỹ càng lời giảng luận tôi; Thì điều đó sẽ thế cho sự an ủi của các bạn.
3Sustinete me, et ego loquar: et post mea, si videbitur, verba, ridete.
3Hãy nhịn nhục tôi, để tôi nói: Sau khi tôi đã nói, các bạn hãy cứ nhạo báng đi.
4Numquid contra hominem disputatio mea est, ut merito non debeam contristari?
4Còn về phần tôi, than van tôi há hướng về loài người sao? Nhân sao trí tôi không hết nhịn nhục?
5Attendite me et obstupescite, et superponite digitum ori vestro.
5Hãy xem xét tôi, và lấy làm lạ; Khá lấy tay bụm miệng mình.
6Et ego, quando recordatus fuero, pertimesco, et concutit carnem meam tremor.
6Khi nào tôi nhớ lại, tôi bèn bị kinh hoảng, Rởn óc cả và thịt tôi.
7Quare ergo impii vivunt, sublevati sunt, confortatique divitiis?
7Cớ sao kẻ gian ác sống, Trở nên già cả và quyền thế cường thạnh?
8Semen eorum permanet coram eis: propinquorum turba et nepotum in conspectu eorum.
8Dòng dõi chúng nó thành lập có mắt chúng nó thấy, Và con cháu họ ở trước mặt họ.
9Domus eorum securæ sunt et pacatæ, et non est virga Dei super illos.
9Nhà của chúng nó được bình yên, không sợ gì, Roi của Đức Chúa trời chẳng đánh mình chúng nó.
10Bos eorum concepit, et non abortivit: vacca peperit, et non est privata fœtu suo.
10Bò đực chúng nó sanh sảnh không hề thiếu kém, Bò cái họ sanh đẻ không có sảo.
11Egrediuntur quasi greges parvuli eorum, et infantes eorum exultant lusibus.
11Chúng nó cho các đứa trẻ mình đi ra như một bầy chiên, Và con cái họ giỡn chơi nhau.
12Tenent tympanum et citharam, et gaudent ad sonitum organi.
12Hát múa theo tiếng trống nhỏ và đàn cầm, Và vui mừng theo tiếng kèn sáo.
13Ducunt in bonis dies suos, et in puncto ad inferna descendunt.
13Chúng nó may mắn trải qua các ngày đời mình, Rồi bỗng chốc sa xuống âm phủ.
14Qui dixerunt Deo: Recede a nobis, et scientiam viarum tuarum nolumus.
14Chúng nó nói với Đức Chúa Trời rằng: “Ngài hãy lìa xa chúng tôi, Vì chúng tôi không muốn biết đạo của Ngài.”
15Quis est Omnipotens, ut serviamus ei? et quid nobis prodest si oraverimus illum?
15Đấng Toàn năng là chi, mà chúng tôi phải phục sự Ngài? Nếu chúng tôi cầu khẩn Ngài thì được ích gì?
16Verumtamen quia non sunt in manu eorum bona sua, consilium impiorum longe sit a me.
16Kìa sự may mắn chúng nó chẳng ở nơi tay chúng nó: Các mưu chước kẻ ác cách xa tôi.
17Quoties lucerna impiorum extinguetur, et superveniet eis inundatio, et dolores dividet furoris sui?
17Cái đèn kẻ ác tắt, Tai họa giáng trên chúng nó, Và trong cơn thạnh nộ, Đức Chúa Trời phân phát đau đớn cho chúng nó, Điều đó há có thường xảy đến sao?
18Erunt sicut paleæ ante faciem venti, et sicut favilla quam turbo dispergit.
18Há năng xảy ra chúng nó phải như rơm trước gió, Như trấu bị bão cất đi sao?
19Deus servabit filiis illius dolorem patris, et cum reddiderit, tunc sciet.
19Các bạn nói rằng: Đức Chúa Trời dành sự hình phạt về hung ác nó cho con cái nó. Đức Chúa Trời khá báo cho chính mình nó, để nó biết:
20Videbunt oculi ejus interfectionem suam, et de furore Omnipotentis bibet.
20Khá chính con mắt hắn xem thấy điều hư hoại mình, Và uống được sự thạnh nộ của Đấng Toàn năng.
21Quid enim ad eum pertinet de domo sua post se, et si numerus mensium ejus dimidietur?
21Vì khi số ngày định cho nó đã hết rồi, Nó nào kể chi đến gia quyến sau nó?
22Numquid Deus docebit quispiam scientiam, qui excelsos judicat?
22Đức Chúa Trời xét đoán những người cao vị; Vậy, người ta há sẽ dạy tri thức cho Ngài sao?
23Iste moritur robustus et sanus, dives et felix:
23Kẻ nầy thác giữa chừng mạnh mẽ, Được thanh nhàn và bình an mọi bề;
24viscera ejus plena sunt adipe, et medullis ossa illius irrigantur:
24Hai bình người đầy sữa, Và tủy xương người nhuần đượm.
25alius vero moritur in amaritudine animæ absque ullis opibus:
25Kẻ khác lại chết giữa chừng cay đắng linh hồn, Chẳng hề được nếm điều phước hạnh gì hết.
26et tamen simul in pulvere dormient, et vermes operient eos.
26Cả hai đều nằm chung trong bụi đất, Giòi sâu che lấp họ.
27Certe novi cogitationes vestras, et sententias contra me iniquas.
27Nầy, tôi biết ý tưởng các bạn, Cùng các mưu kế các bạn toan dùng đặng tàn hại tôi.
28Dicitis enim: Ubi est domus principis? et ubi tabernacula impiorum?
28Vì các bạn nói rằng: “Nhà kẻ cường bạo ở đâu? Trại kẻ ác ở nơi nào?”
29Interrogate quemlibet de viatoribus, et hæc eadem illum intelligere cognoscetis:
29Chớ thì các bạn chẳng hề hỏi khách qua đường sao? Há chẳng nhờ chứng cớ của họ mà nhìn biết rằng,
30quia in diem perditionis servatur malus, et ad diem furoris ducetur.
30Trong ngày tai họa, kẻ hung ác được khỏi, Và trong ngày thạnh nộ, nó được thoát?
31Quis arguet coram eo viam ejus? et quæ fecit, quis reddet illi?
31Tại trước mặt hắn, ai dám trách hắn vì tánh hạnh hắn? Ai sẽ báo ứng điều hắn đã làm?
32Ipse ad sepulchra ducetur, et in congerie mortuorum vigilabit.
32Nó sẽ được đưa đến huyệt mả, Và người ta sẽ canh giữ phần mộ nó.
33Dulcis fuit glareis Cocyti, et post se omnem hominem trahet, et ante se innumerabiles.
33Các cục đất của trũng lấy làm êm dịu cho nó; Mọi người đều đi noi theo, Và kẻ đi trước thì vô số.
34Quomodo igitur consolamini me frustra, cum responsio vestra repugnare ostensa sit veritati?]
34Vậy, sao các bạn an ủi tôi vô ích dường ấy? Vì những câu đáp của các bạn chỉ còn sự bất trung mà thôi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.