Jób
Chapter 21
Kralice Bible (1613)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Jób 21

Kralice Bible (1613)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A odpovídaje Job, řekl:
1Gióp đáp rằng:
2Poslouchejte pilně řeči mé, a bude mi to za potěšení od vás.
2Hãy nghe kỹ càng lời giảng luận tôi; Thì điều đó sẽ thế cho sự an ủi của các bạn.
3Postrpte mne, abych i já mluvil, a když odmluvím, posmívejž se.
3Hãy nhịn nhục tôi, để tôi nói: Sau khi tôi đã nói, các bạn hãy cứ nhạo báng đi.
4Zdaliž já před člověkem naříkám? A poněvadž jest proč, jakž nemá býti ssoužen duch můj?
4Còn về phần tôi, than van tôi há hướng về loài người sao? Nhân sao trí tôi không hết nhịn nhục?
5Pohleďte na mne, a užasněte se, a položte prst na ústa.
5Hãy xem xét tôi, và lấy làm lạ; Khá lấy tay bụm miệng mình.
6Ano já sám, když rozvažuji své bídy, tedy se děsím, a spopadá tělo mé hrůza.
6Khi nào tôi nhớ lại, tôi bèn bị kinh hoảng, Rởn óc cả và thịt tôi.
7Proč bezbožní živi jsou, k věku starému přicházejí, též i bohatnou?
7Cớ sao kẻ gian ác sống, Trở nên già cả và quyền thế cường thạnh?
8Símě jejich stálé jest před oblíčejem jejich s nimi, a rodina jejich před očima jejich.
8Dòng dõi chúng nó thành lập có mắt chúng nó thấy, Và con cháu họ ở trước mặt họ.
9Domové jejich bezpečni jsou před strachem, aniž metla Boží na nich.
9Nhà của chúng nó được bình yên, không sợ gì, Roi của Đức Chúa trời chẳng đánh mình chúng nó.
10Býk jejich připouštín bývá, ale ne na prázdno; kráva jejich rodí, a nepotracuje plodu.
10Bò đực chúng nó sanh sảnh không hề thiếu kém, Bò cái họ sanh đẻ không có sảo.
11Vypouštějí jako stádo maličké své, a synové jejich poskakují.
11Chúng nó cho các đứa trẻ mình đi ra như một bầy chiên, Và con cái họ giỡn chơi nhau.
12Povyšují hlasu při bubnu a harfě, a veselí se k zvuku muziky.
12Hát múa theo tiếng trống nhỏ và đàn cầm, Và vui mừng theo tiếng kèn sáo.
13Tráví v štěstí dny své, a v okamžení do hrobu sstupují.
13Chúng nó may mắn trải qua các ngày đời mình, Rồi bỗng chốc sa xuống âm phủ.
14Kteříž říkají Bohu silnému: Odejdi od nás, nebo známosti cest tvých neoblibujeme.
14Chúng nó nói với Đức Chúa Trời rằng: “Ngài hãy lìa xa chúng tôi, Vì chúng tôi không muốn biết đạo của Ngài.”
15Kdo jest Všemohoucí, abychom sloužili jemu? A jaký toho zisk, že bychom se modlili jemu?
15Đấng Toàn năng là chi, mà chúng tôi phải phục sự Ngài? Nếu chúng tôi cầu khẩn Ngài thì được ích gì?
16Ale pohleď, že není v moci jejich štěstí jejich, pročež rada bezbožných vzdálena jest ode mne.
16Kìa sự may mắn chúng nó chẳng ở nơi tay chúng nó: Các mưu chước kẻ ác cách xa tôi.
17Èasto-liž svíce bezbožných hasne? Přichází-liž na ně bída jejich? Poděluje-liž je bolestmi Bůh v hněvě svém?
17Cái đèn kẻ ác tắt, Tai họa giáng trên chúng nó, Và trong cơn thạnh nộ, Đức Chúa Trời phân phát đau đớn cho chúng nó, Điều đó há có thường xảy đến sao?
18Bývají-liž jako plevy před větrem, a jako drtiny, kteréž zachvacuje vicher?
18Há năng xảy ra chúng nó phải như rơm trước gió, Như trấu bị bão cất đi sao?
19Odkládá-liž Bůh synům bezbožníka nepravost jeho? Odplacuje-liž jemu tak, aby to znáti mohl,
19Các bạn nói rằng: Đức Chúa Trời dành sự hình phạt về hung ác nó cho con cái nó. Đức Chúa Trời khá báo cho chính mình nó, để nó biết:
20A aby viděly oči jeho neštěstí jeho, a prchlivost Všemohoucího že by pil?
20Khá chính con mắt hắn xem thấy điều hư hoại mình, Và uống được sự thạnh nộ của Đấng Toàn năng.
21O dům pak jeho po něm jaká jest péče jeho, když počet měsíců jeho bude umenšen?
21Vì khi số ngày định cho nó đã hết rồi, Nó nào kể chi đến gia quyến sau nó?
22Zdali Boha silného kdo učiti bude umění, kterýž sám vysokosti soudí?
22Đức Chúa Trời xét đoán những người cao vị; Vậy, người ta há sẽ dạy tri thức cho Ngài sao?
23Tento umírá v síle dokonalosti své, všelijak bezpečný a pokojný.
23Kẻ nầy thác giữa chừng mạnh mẽ, Được thanh nhàn và bình an mọi bề;
24Prsy jeho plné jsou mléka, a mozk kostí jeho svlažován bývá.
24Hai bình người đầy sữa, Và tủy xương người nhuần đượm.
25Jiný pak umírá v hořkosti ducha, kterýž nikdy nejídal s potěšením.
25Kẻ khác lại chết giữa chừng cay đắng linh hồn, Chẳng hề được nếm điều phước hạnh gì hết.
26Jednostejně v prachu lehnou, a červy se rozlezou.
26Cả hai đều nằm chung trong bụi đất, Giòi sâu che lấp họ.
27Aj, známť myšlení vaše, a chytrosti, kteréž proti mně neprávě vymýšlíte.
27Nầy, tôi biết ý tưởng các bạn, Cùng các mưu kế các bạn toan dùng đặng tàn hại tôi.
28Nebo pravíte: Kde jest dům urozeného? A kde stánek příbytků bezbožných?
28Vì các bạn nói rằng: “Nhà kẻ cường bạo ở đâu? Trại kẻ ác ở nơi nào?”
29Což jste se netázali jdoucích cestou? Zkušení-liž aspoň jejich nepovolíte,
29Chớ thì các bạn chẳng hề hỏi khách qua đường sao? Há chẳng nhờ chứng cớ của họ mà nhìn biết rằng,
30Že v den neštěstí ochranu mívá bezbožný, v den, pravím, rozhněvání přistřín bývá?
30Trong ngày tai họa, kẻ hung ác được khỏi, Và trong ngày thạnh nộ, nó được thoát?
31Kdo jemu oznámí zjevně cestu jeho? Aneb za to, co činil, kdo jemu odplatí?
31Tại trước mặt hắn, ai dám trách hắn vì tánh hạnh hắn? Ai sẽ báo ứng điều hắn đã làm?
32A však i on k hrobu vyprovozen bude, a tam zůstane.
32Nó sẽ được đưa đến huyệt mả, Và người ta sẽ canh giữ phần mộ nó.
33Sladnou jemu hrudy údolí, nadto za sebou všecky lidi táhne, těch pak, kteříž ho předešli, není počtu.
33Các cục đất của trũng lấy làm êm dịu cho nó; Mọi người đều đi noi theo, Và kẻ đi trước thì vô số.
34Hle, jak vy mne marně troštujete, nebo v odpovědech vašich nezůstává než faleš.
34Vậy, sao các bạn an ủi tôi vô ích dường ấy? Vì những câu đáp của các bạn chỉ còn sự bất trung mà thôi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.