Jób 9
Kralice Bible (1613)Translation
Kralice Bible (1613)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Odpověděv pak Job, řekl:
1Gióp đáp lời lại mà rằng:
2I ovšem vím, žeť tak jest; nebo jak by mohl člověk spravedliv býti před Bohem silným?
2Quả thật, tôi biết ấy là như vậy; Nhưng làm thế nào cho loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời?
3A chtěl-li by se hádati s ním, nemohl by jemu odpovědíti ani na jedno z tisíce slov.
3Nếu muốn tranh biện với Ngài. Thì một lần trong ngàn lần, loài người không thế đáp lời.
4Moudrého jest srdce a silný v moci. Kdo zatvrdiv se proti němu, pokoje užil?
4Đức Chúa Trời có lòng trí huệ và rất mạnh sức: Ai cứng cỏi với Ngài mà lại được may mắn?
5On přenáší hory, než kdo shlédne, a podvrací je v prchlivosti své.
5Ngài dời các núi đi, Đánh đổ nó trong cơn giận Ngài; nhưng núi chẳng biết đến.
6On pohybuje zemí z místa jejího, tak že se třesou sloupové její.
6Ngài khiến đất rúng động khỏi nền nó, Và các trụ nó đều chuyển lay;
7On když zapovídá slunci, nevychází, a hvězdy zapečeťuje.
7Ngài dạy biểu mặt trời, nó bèn chẳng mọc, Ngài đóng ấn trên các ngôi sao;
8On roztahuje nebe sám, a šlapá po vlnách mořských.
8Một mình Ngài trải các từng trời ra, Và bước đi trên các ngọn sóng biển;
9On učinil Arktura, Oriona, Kuřátka a hvězdy skryté na poledne.
9Ngài dựng nên sao bắc đẩu, Sao cày, và Sao rua, Cùng những lầu các bí mật của phương nam.
10On činí věci veliké, a to nevystižitelné a divné, jimž není počtu.
10Ngài làm những việc lớn lao, không sao dò xét được, Những dấu kỳ chẳng xiết cho được.
11Ano jde-li mimo mne, tedy nevidím; ovšem když pomíjí, neznamenám ho.
11Kìa, Ngài đã đi qua gần tôi, mà tôi không thấy Ngài, Ngài sang ngang trước mặt tôi, nhưng tôi chẳng nhìn thấy Ngài.
12Tolikéž jestliže co uchvátí, kdo mu to rozkáže navrátiti? Kdo dí jemu: Co činíš?
12Kìa, Ngài vớ lấy mồi, ai ngăn trở Ngài được? Ai sẽ nói với Ngài rằng: Chúa làm chi vậy?
13Nezdržel-li by Bůh hněvu svého, klesli by před ním spolu spuntovaní, jakkoli mocní.
13Đức Chúa Trời không hồi cơn giận Ngài; Những kẻ giúp đỡ Ra-háp đều cúi mình xuống dưới Ngài.
14Jakž bych já tedy jemu odpovídati, a jaká slova svá proti němu vyhledati mohl?
14Phương chi tôi đáp lại với Ngài, Và chọn lời tranh biện cùng Ngài!
15Kterémuž, bych i spravedliv byl, nebudu odpovídati, ale před soudcím svým pokořiti se budu.
15Dầu khi tôi công bình, tôi cũng không dám đối lại cùng Ngài; Nhưng tôi cầu xin ơn của Đấng phán xét tôi.
16Ač bych pak i volal, a on mi se ozval, neuvěřím, aby vyslyšel hlas můj,
16Mặc dầu tôi kêu cầu, và Ngài đáp lời tôi, Tôi cũng không tin rằng Ngài lắng tai nghe tiếng tôi.
17Poněvadž vichřicí setřel mne, rozmnožil rány mé bez příčiny.
17Vì Ngài chà nát tôi trong cơn gió bão, Và thêm nhiều vít tích cho tôi vô cớ.
18Aniž mi dá oddechnouti, ale sytí mne hořkostmi.
18Ngài không để cho tôi hả hơi; Nhưng Ngài khiến tôi no đầy sự đắng cay,
19Obrátil-li bych se k moci, aj, onť jest nejsilnější; pakli k soudu, kdo mi rok složí?
19Nếu luận về sức lực, kìa, Ngài vốn quyền năng! Nếu nói về lý đoán, thì Ngài rằng: “Ai dám cáo kiện ta?”
20Jestliže se za spravedlivého stavěti budu, ústa má potupí mne; pakli za upřímého, převráceného mne býti ukáží.
20Dẫu rằng tôi công bình, miệng mình sẽ lên án cho mình; Tuy tôi trọn vẹn, nó sẽ tỏ tôi ra gian tà.
21Jsem-li upřímý, nebudu věděti toho; nenáviděti budu života svého.
21Dẫu tôi vô tội, tôi không kể đến mình tôi, Tôi khinh bỉ mạng sống tôi.
22Jediná jest věc, pročež jsem to mluvil, že upřímého jako bezbožného on zahlazuje.
22Aùc và thiện thảy đều như nhau; bởi cớ ấy, nên tôi có nói: Ngài tiêu diệt người trọn vẹn cũng như kẻ gian ác.
23Jestliže bičem náhle usmrcuje, zkušování nevinných se posmívá;
23Nếu tai họa giết chết thình lình, Thì Ngài chê cười sự thử thách của người vô tội.
24Země dána bývá v ruku bezbožného, tvář soudců jejich zakrývá: jestliže ne on, kdož jiný jest?
24Đất bị phó vào tay kẻ gian ác; Nó che mặt những quan xét của đất; Nếu chẳng phải nó, vậy thì ai?
25Dnové pak moji rychlejší byli nežli posel; utekli, aniž viděli dobrých věcí.
25Các ngày của tôi mau hơn kẻ trạm; Nó trốn không thấy điều phước hạnh.
26Pominuli jako prudké lodí, jako orlice letící na pastvu.
26Nó xớt qua mau như thuyền nan, Như chim ưng xông vào mồi.
27Dím-li: Zapomenu se na své naříkání, zanechám horlení svého, a posilím se:
27Nếu tôi nói: Tôi sẽ quên sự than phiền tôi, Bỏ bộ mặt buồn thảm tôi và lấy làm vui mừng,
28Lekám se všech bolestí svých, vida, že mne jich nezprostíš.
28Thì tôi sợ hãi các điều đau đớn tôi, Biết rằng Ngài không cầm tôi là vô tội.
29Jestli jsem bezbožný, pročež bych nadarmo pracoval?
29Phải, tôi sẽ bị định tội; Nên cớ sao tôi làm cho mình mệt nhọc luống công?
30Ano bych se i umyl vodou sněžnou, a očistil mýdlem ruce své,
30Nếu tôi tắm trong nước tuyết, Rửa tay tôi với nước tro,
31Tedy v jámě pohřížíš mne, tak že se ode mne zprzní i to roucho mé.
31Thì Ngài lại nhận tôi trong hầm, Đến đỗi quần áo tôi sẽ gớm ghê tôi.
32Nebo Bůh není člověkem jako já, jemuž bych odpovídati mohl, a abychom vešli spolu v soud.
32Vì Đức Chúa Trời chẳng phải loài người như tôi, mà tôi dám đối với Ngài, Để chúng ta cùng đi chịu phán xét.
33Aniž máme prostředníka mezi sebou, kterýž by rozhodl nás oba.
33Chẳng có người nào phân xử giữa chúng ta, Đặt tay mình trên hai chúng ta.
34Kdyby odjal ode mne prut svůj, a strach jeho aby mne nekormoutil,
34Ước gì Chúa rút roi Ngài khỏi tôi, Khiến sự kinh khiếp của Ngài chớ làm rối loạn tôi nữa;
35Tehdáž bych mluvil, a nebál bych se, poněvadž není toho tak při mně.
35Bấy giờ, tôi sẽ nói, chẳng sợ Ngài; Nhưng tôi chẳng được như vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.