Йова 9
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І відповів Йов і сказав:
1Gióp đáp lời lại mà rằng:
2Правда! я знаю, що так; але як оправдаєсь чоловік перед Богом?
2Quả thật, tôi biết ấy là như vậy; Nhưng làm thế nào cho loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời?
3А хоч би схотїв стати з ним на прю, то з тисячі й на одно не зʼумів би одказати.
3Nếu muốn tranh biện với Ngài. Thì một lần trong ngàn lần, loài người không thế đáp lời.
4Він серцем премудрий і великий силою; хто проти його вставав та й бував зʼупокоєн?
4Đức Chúa Trời có lòng trí huệ và rất mạnh sức: Ai cứng cỏi với Ngài mà lại được may mắn?
5Він переносить гори й не пізнають їх; він перевертає їх в гнїву свойму;
5Ngài dời các núi đi, Đánh đổ nó trong cơn giận Ngài; nhưng núi chẳng biết đến.
6Він рушає землю з її місця, і стовпи її колихаються;
6Ngài khiến đất rúng động khỏi nền nó, Và các trụ nó đều chuyển lay;
7Скаже сонцеві, — і не зійде, й на звізди печать покладає.
7Ngài dạy biểu mặt trời, nó bèn chẳng mọc, Ngài đóng ấn trên các ngôi sao;
8Він самий напинає небеса й ходить по валах морських.
8Một mình Ngài trải các từng trời ra, Và bước đi trên các ngọn sóng biển;
9Він і Ведмедя саздав, Орийон і Плеяди, й зорі скриті на полуднї;
9Ngài dựng nên sao bắc đẩu, Sao cày, và Sao rua, Cùng những lầu các bí mật của phương nam.
10Творить великі дива, недовідні, безлїчні.
10Ngài làm những việc lớn lao, không sao dò xét được, Những dấu kỳ chẳng xiết cho được.
11Ось, він перейде попри мене, й не побачу його; промайне, й не замічу його.
11Kìa, Ngài đã đi qua gần tôi, mà tôi không thấy Ngài, Ngài sang ngang trước mặt tôi, nhưng tôi chẳng nhìn thấy Ngài.
12Візьме, та хто заборонить йому? Хто скаже йому: що се ти робиш?
12Kìa, Ngài vớ lấy mồi, ai ngăn trở Ngài được? Ai sẽ nói với Ngài rằng: Chúa làm chi vậy?
13Коли Бог не одверне гнїву свого, впадуть перед ним володарі горді;
13Đức Chúa Trời không hồi cơn giận Ngài; Những kẻ giúp đỡ Ra-háp đều cúi mình xuống dưới Ngài.
14Як же менї відказувати йому та прибірати слова проти його?
14Phương chi tôi đáp lại với Ngài, Và chọn lời tranh biện cùng Ngài!
15Хоч би я й прав був, озиватись не буду, а вмоляти му суддю мого.
15Dầu khi tôi công bình, tôi cũng không dám đối lại cùng Ngài; Nhưng tôi cầu xin ơn của Đấng phán xét tôi.
16Як би я покликнув, а він відповів менї, то я не поняв би віри, що мій голос вислухав той,
16Mặc dầu tôi kêu cầu, và Ngài đáp lời tôi, Tôi cũng không tin rằng Ngài lắng tai nghe tiếng tôi.
17Що в хуртовинї мене поражає, й без вини мої рани намножує,
17Vì Ngài chà nát tôi trong cơn gió bão, Và thêm nhiều vít tích cho tôi vô cớ.
18Та не дає менї спокійно й відотхнути, а без міри годує мене горем.
18Ngài không để cho tôi hả hơi; Nhưng Ngài khiến tôi no đầy sự đắng cay,
19Коли питати про силу, то він один могучий; коли же про суд, та хто зведе мене з ним?
19Nếu luận về sức lực, kìa, Ngài vốn quyền năng! Nếu nói về lý đoán, thì Ngài rằng: “Ai dám cáo kiện ta?”
20Буду я оправдуватись, то самі мої уста обвинуватять мене; як я безвинний, то він вину в менї знайде.
20Dẫu rằng tôi công bình, miệng mình sẽ lên án cho mình; Tuy tôi trọn vẹn, nó sẽ tỏ tôi ra gian tà.
21Так! я не винен; байдуже менї жити; нїзащо менї життє.
21Dẫu tôi vô tội, tôi không kể đến mình tôi, Tôi khinh bỉ mạng sống tôi.
22Все одно; тим то й сказав я, що він (як схоче) губить безвинного й беззаконного.
22Aùc và thiện thảy đều như nhau; bởi cớ ấy, nên tôi có nói: Ngài tiêu diệt người trọn vẹn cũng như kẻ gian ác.
23Як того вбиває одразу бичем, то з муки невинних сміється.
23Nếu tai họa giết chết thình lình, Thì Ngài chê cười sự thử thách của người vô tội.
24Земля оддана в руки безбожникам; він слїпить очі суддям її. А коли не він, то хто ж инший?
24Đất bị phó vào tay kẻ gian ác; Nó che mặt những quan xét của đất; Nếu chẳng phải nó, vậy thì ai?
25Днї мої хутші од гонця, — мчаться, не бачивши долї;
25Các ngày của tôi mau hơn kẻ trạm; Nó trốn không thấy điều phước hạnh.
26Мчаться, мов човни легкі, мов орел, що кидаєсь на здобич.
26Nó xớt qua mau như thuyền nan, Như chim ưng xông vào mồi.
27Як я скажу собі: забуду жалощі мої, виясню мій хмурий вид, підбодрю моє серце,
27Nếu tôi nói: Tôi sẽ quên sự than phiền tôi, Bỏ bộ mặt buồn thảm tôi và lấy làm vui mừng,
28То знов муки мої лякають мене, знаю бо, що не признаєш мене безвинним;
28Thì tôi sợ hãi các điều đau đớn tôi, Biết rằng Ngài không cầm tôi là vô tội.
29А скоро я винуватий, так чого надармо й силкуватись?
29Phải, tôi sẽ bị định tội; Nên cớ sao tôi làm cho mình mệt nhọc luống công?
30Хоч би я й снїгом обмивсь і найчистїйше очистив руки мої,
30Nếu tôi tắm trong nước tuyết, Rửa tay tôi với nước tro,
31То й тодї ти трутиш мене в багно, та й одежа моя буде мною гидитись.
31Thì Ngài lại nhận tôi trong hầm, Đến đỗi quần áo tôi sẽ gớm ghê tôi.
32Він бо не людина, як я, щоб я міг одповідати йому й йти вкупі з ним на суд!
32Vì Đức Chúa Trời chẳng phải loài người như tôi, mà tôi dám đối với Ngài, Để chúng ta cùng đi chịu phán xét.
33І проміж нас нїякий посередник не стане, щоб положив руку на нас обох.
33Chẳng có người nào phân xử giữa chúng ta, Đặt tay mình trên hai chúng ta.
34Нехай же відверне він від мене бича свого, й страх його нехай не лякає мене, —
34Ước gì Chúa rút roi Ngài khỏi tôi, Khiến sự kinh khiếp của Ngài chớ làm rối loạn tôi nữa;
35А тодї я говорити му й не збоюсь його, бо я сам собою не такий.
35Bấy giờ, tôi sẽ nói, chẳng sợ Ngài; Nhưng tôi chẳng được như vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.