Йова 11
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І промовив Зофар із Нааму й сказав:
1Sô-pha, người Na-a-ma, đáp lại, mà rằng:
2Чи вже ж на безлїч слів не треба давати одвіту? Чи вже ж говорун мусить бути праведний?
2Há chẳng nên đáp lại lời nói nhiều sao? Người già miệng há sẽ được xưng là công bình ư?
3Нїби твоє пусте базїканнє заставить людей мовчати, щоб ти на глум підіймав, а не було кому тебе пристидати?
3Chớ thì các lời khoe khoang của ông sẽ khiến người ta nín sao? Khi ông nhạo báng, há không có ai bỉ mặt ông ư?
4Ти говорив: Я суджу право, й чист я в тебе перед очима.
4Vì ông thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Đạo lý tôi là thanh tịnh; Tôi không nhơ bợn trước mặt Chúa.
5А коли б так Бог схотїв промовити, й отворив уста свої до тебе,
5ĩ! Chớ gì đẹp lòng Đức Chúa Trời mà phán, Và mở miệng Ngài đáp lời nghịch cùng ông,
6Та показав тобі тайни премудростї, й що тобі вдвоє більше належало б терпіти! Тим то знай, що Бог дещо з проступків твоїх подав у непамять.
6Ước chi Ngài chỉ tỏ cho ông biết sự bí mật của sự khôn ngoan! Vì Ngài thông hiểu bội phần. Vậy, khá biết rằng Đức Chúa Trời phạt ông lại không xứng với tội gian ác của ông.
7Чи то ж ти зможеш умом ізбагнути Бога? Чи зможеш Вседержителя (путь) до конця прослїдити?
7Nếu ông dò xét, há có thể hiểu biết được sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, Và thấu rõ Đấng Toàn năng sao?
8Та ж він висший небес, — що ж ти вдїяти зможеш? глибше він всїх безодень, — що можеш зрозуміти?
8Sự ấy vốn cao bằng các từng trời: Vậy ông sẽ làm gì? Sâu hơn âm phủ: ông hiểu biết sao đặng?
9Міра його довша нїж земля, ширша над моря.
9Bề dài sự ấy lại hơn cỡ trái đất, Và rộng lớn hơn biển cả.
10Вхопить кого й закує в окови та поставить на суд, хто відверне його?
10Nếu Đức Chúa Trời đi ngang qua, bắt người ta cầm tù, Và đòi ứng hầu đoán xét, thì ai sẽ ngăn trở Ngài được?
11Бо він знає людей лицемірних, і бачить проступок, — та й чи ж не зверне на його уваги?
11Vì Ngài biết những người giả hình, Xem thấy tội ác mà loài người không cảm biết đến.
12Та пустоголовий чоловік мудрує, хоч людина родиться так, як осля дике.
12Nhưng chừng nào lừa con rừng sanh ra làm người, Thì chừng nấy người hư không mới trở nên thông sáng!
13Але коли ти очистиш серце твоє й простягнеш ід йому руки твої,
13Vậy, nếu dọn lòng cho xứng đáng, Và giơ tay mình ra hướng về Chúa;
14І коли нечисть на руцї в тебе, а ти відкинеш її, й не дозволиш, щоб проступок пробував у шатрі твойму,
14Bằng có tội ác trong tay ông, mà ông bỏ xa khỏi mình, Chẳng để sự bất công ở trong trại mình,
15Тодї піднімеш (сьміло) незамаргане лице твоє, й стояти меш твердо й не будеш боятись.
15Bấy giờ, ông hẳn sẽ ngước mắt lên không tì vít gì, Thật sẽ được vững vàng, chẳng sợ chi;
16І тодї забудеш біду, й хиба, як про воду, що протекла, згадувати меш про неї.
16Oâng sẽ quên các điều hoạn nạn mình, Và nhớ đến nó như nước đã chảy qua.
17І яснїйше, анїж південь, попливе життє твоє, й прояснїєш, мов ранок.
17Đời ông sẽ sáng sủa hơn ban trưa; Dẫu nay tối tăm, sau sẽ hóa ra như buổi sáng.
18Певність у тебе тодї із надїєю буде; ти захищен, і можеш безпечно почивати.
18Oâng sẽ bình an vô sự, vì có sự trông cậy; Oâng sẽ tìm tòi bốn bên, rồi nghỉ ngơi yên hàn vô sự.
19Будеш лежати собі, й не буде нїкого, хто б тебе страшив, і многі стануть запобігати (ласки) у тебе.
19Lại ông sẽ nằm, không ai làm cho mình sợ hãi, Và lắm người sẽ tìm ơn của ông.
20Очі ж ледачих (від плачу) потемнїють, і охорона їх пропаде, й надїя їх зникне.
20Nhưng mắt kẻ hung ác sẽ bị hao mòn; Nó chẳng có nơi ẩn núp, Và điều nó sẽ trông mong, ấy là sự tắt hơi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.