Job
Chapter 9
Clementine Vulgate, 1598
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Job 9

Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Et respondens Job, ait:
1Gióp đáp lời lại mà rằng:
2[Vere scio quod ita sit, et quod non justificetur homo compositus Deo.
2Quả thật, tôi biết ấy là như vậy; Nhưng làm thế nào cho loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời?
3Si voluerit contendere cum eo, non poterit ei respondere unum pro mille.
3Nếu muốn tranh biện với Ngài. Thì một lần trong ngàn lần, loài người không thế đáp lời.
4Sapiens corde est, et fortis robore: quis restitit ei, et pacem habuit?
4Đức Chúa Trời có lòng trí huệ và rất mạnh sức: Ai cứng cỏi với Ngài mà lại được may mắn?
5Qui transtulit montes, et nescierunt hi quos subvertit in furore suo.
5Ngài dời các núi đi, Đánh đổ nó trong cơn giận Ngài; nhưng núi chẳng biết đến.
6Qui commovet terram de loco suo, et columnæ ejus concutiuntur.
6Ngài khiến đất rúng động khỏi nền nó, Và các trụ nó đều chuyển lay;
7Qui præcipit soli, et non oritur, et stellas claudit quasi sub signaculo.
7Ngài dạy biểu mặt trời, nó bèn chẳng mọc, Ngài đóng ấn trên các ngôi sao;
8Qui extendit cælos solus, et graditur super fluctus maris.
8Một mình Ngài trải các từng trời ra, Và bước đi trên các ngọn sóng biển;
9Qui facit Arcturum et Oriona, et Hyadas et interiora austri.
9Ngài dựng nên sao bắc đẩu, Sao cày, và Sao rua, Cùng những lầu các bí mật của phương nam.
10Qui facit magna, et incomprehensibilia, et mirabilia, quorum non est numerus.
10Ngài làm những việc lớn lao, không sao dò xét được, Những dấu kỳ chẳng xiết cho được.
11Si venerit ad me, non videbo eum; si abierit, non intelligam.
11Kìa, Ngài đã đi qua gần tôi, mà tôi không thấy Ngài, Ngài sang ngang trước mặt tôi, nhưng tôi chẳng nhìn thấy Ngài.
12Si repente interroget, quis respondebit ei? vel quis dicere potest: Cur ita facis?
12Kìa, Ngài vớ lấy mồi, ai ngăn trở Ngài được? Ai sẽ nói với Ngài rằng: Chúa làm chi vậy?
13Deus, cujus iræ nemo resistere potest, et sub quo curvantur qui portant orbem.
13Đức Chúa Trời không hồi cơn giận Ngài; Những kẻ giúp đỡ Ra-háp đều cúi mình xuống dưới Ngài.
14Quantus ergo sum ego, ut respondeam ei, et loquar verbis meis cum eo?
14Phương chi tôi đáp lại với Ngài, Và chọn lời tranh biện cùng Ngài!
15qui etiam si habuero quippiam justum, non respondebo: sed meum judicem deprecabor.
15Dầu khi tôi công bình, tôi cũng không dám đối lại cùng Ngài; Nhưng tôi cầu xin ơn của Đấng phán xét tôi.
16Et cum invocantem exaudierit me, non credo quod audierit vocem meam.
16Mặc dầu tôi kêu cầu, và Ngài đáp lời tôi, Tôi cũng không tin rằng Ngài lắng tai nghe tiếng tôi.
17In turbine enim conteret me, et multiplicabit vulnera mea, etiam sine causa.
17Vì Ngài chà nát tôi trong cơn gió bão, Và thêm nhiều vít tích cho tôi vô cớ.
18Non concedit requiescere spiritum meum, et implet me amaritudinibus.
18Ngài không để cho tôi hả hơi; Nhưng Ngài khiến tôi no đầy sự đắng cay,
19Si fortitudo quæritur, robustissimus est; si æquitas judicii, nemo audet pro me testimonium dicere.
19Nếu luận về sức lực, kìa, Ngài vốn quyền năng! Nếu nói về lý đoán, thì Ngài rằng: “Ai dám cáo kiện ta?”
20Si justificare me voluero, os meum condemnabit me; si innocentem ostendero, pravum me comprobabit.
20Dẫu rằng tôi công bình, miệng mình sẽ lên án cho mình; Tuy tôi trọn vẹn, nó sẽ tỏ tôi ra gian tà.
21Etiam si simplex fuero, hoc ipsum ignorabit anima mea, et tædebit me vitæ meæ.
21Dẫu tôi vô tội, tôi không kể đến mình tôi, Tôi khinh bỉ mạng sống tôi.
22Unum est quod locutus sum: et innocentem et impium ipse consumit.
22Aùc và thiện thảy đều như nhau; bởi cớ ấy, nên tôi có nói: Ngài tiêu diệt người trọn vẹn cũng như kẻ gian ác.
23Si flagellat, occidat semel, et non de pœnis innocentum rideat.
23Nếu tai họa giết chết thình lình, Thì Ngài chê cười sự thử thách của người vô tội.
24Terra data est in manus impii; vultum judicum ejus operit. Quod si non ille est, quis ergo est?
24Đất bị phó vào tay kẻ gian ác; Nó che mặt những quan xét của đất; Nếu chẳng phải nó, vậy thì ai?
25Dies mei velociores fuerunt cursore; fugerunt, et non viderunt bonum.
25Các ngày của tôi mau hơn kẻ trạm; Nó trốn không thấy điều phước hạnh.
26Pertransierunt quasi naves poma portantes; sicut aquila volans ad escam.
26Nó xớt qua mau như thuyền nan, Như chim ưng xông vào mồi.
27Cum dixero: Nequaquam ita loquar: commuto faciem meam, et dolore torqueor.
27Nếu tôi nói: Tôi sẽ quên sự than phiền tôi, Bỏ bộ mặt buồn thảm tôi và lấy làm vui mừng,
28Verebar omnia opera mea, sciens quod non parceres delinquenti.
28Thì tôi sợ hãi các điều đau đớn tôi, Biết rằng Ngài không cầm tôi là vô tội.
29Si autem et sic impius sum, quare frustra laboravi?
29Phải, tôi sẽ bị định tội; Nên cớ sao tôi làm cho mình mệt nhọc luống công?
30Si lotus fuero quasi aquis nivis, et fulserint velut mundissimæ manus meæ,
30Nếu tôi tắm trong nước tuyết, Rửa tay tôi với nước tro,
31tamen sordibus intinges me, et abominabuntur me vestimenta mea.
31Thì Ngài lại nhận tôi trong hầm, Đến đỗi quần áo tôi sẽ gớm ghê tôi.
32Neque enim viro qui similis mei est, respondebo; nec qui mecum in judicio ex æquo possit audiri.
32Vì Đức Chúa Trời chẳng phải loài người như tôi, mà tôi dám đối với Ngài, Để chúng ta cùng đi chịu phán xét.
33Non est qui utrumque valeat arguere, et ponere manum suam in ambobus.
33Chẳng có người nào phân xử giữa chúng ta, Đặt tay mình trên hai chúng ta.
34Auferat a me virgam suam, et pavor ejus non me terreat.
34Ước gì Chúa rút roi Ngài khỏi tôi, Khiến sự kinh khiếp của Ngài chớ làm rối loạn tôi nữa;
35Loquar, et non timebo eum; neque enim possum metuens respondere.]
35Bấy giờ, tôi sẽ nói, chẳng sợ Ngài; Nhưng tôi chẳng được như vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.