Job 6
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Respondens autem Job, dixit:
1Gióp đáp lại rằng:
2[Utinam appenderentur peccata mea quibus iram merui, et calamitas quam patior, in statera !
2Oâi! Chớ gì nỗi buồn tôi nhắc cân cho đúng, Và các tai nạn tôi để lên cân thăng bằng!
3Quasi arena maris hæc gravior appareret; unde et verba mea dolore sunt plena:
3Vì hiện giờ nó nặng hơn cát biển; Nên tại cớ ấy các lời tôi nói đại ra.
4quia sagittæ Domini in me sunt, quarum indignatio ebibit spiritum meum; et terrores Domini militant contra me.
4Bởi vì các tên của Đấng Toàn năng trúng nhằm tôi; Tâm hồn tôi uống nọc độc của tên ấy; Sự kinh khiếp của Đức Chúa Trời dàn trận nghịch cùng tôi.
5Numquid rugiet onager cum habuerit herbam? aut mugiet bos cum ante præsepe plenum steterit?
5Chớ thì con lừa rừng nào kêu la khi có cỏ? Con bò nào rống khi có lương thảo?
6aut poterit comedi insulsum, quod non est sale conditum? aut potest aliquis gustare quod gustatum affert mortem?
6Vật chi lạt lẽo, người ta nào ăn chẳng bỏ muối? Còn trong tròng trắng trứng gà, đâu có mùi lai gì?
7Quæ prius nolebat tangere anima mea, nunc, præ angustia, cibi mei sunt.
7Vật gì linh hồn tôi từ chối đá đến, Lại trở nên vật thực gớm ghê của tôi.
8Quis det ut veniat petitio mea, et quod expecto tribuat mihi Deus?
8Oâi! Chớ gì lời sở cầu tôi được thành, Và Đức Chúa Trời ban cho tôi điều tôi ao ước!
9et qui cœpit, ipse me conterat; solvat manum suam, et succidat me?
9Chớ chi Đức Chúa Trời đẹp lòng cà tán tôi, Buông tay Ngài ra trừ diệt tôi!
10Et hæc mihi sit consolatio, ut affligens me dolore, non parcat, nec contradicam sermonibus Sancti.
10Vậy, tôi sẽ còn được an ủi, Và trong cơn đau đớn chẳng giản, Tôi sẽ vui mừng, bởi vì không có từ chối lời phán của Đấng Thánh.
11Quæ est enim fortitudo mea, ut sustineam? aut quis finis meus, ut patienter agam?
11Sức lực tôi nào đủ đợi cho nỗi, Cuối cùng tôi sẽ ra sao, mà tôi lại nhẫn nhịn được?
12Nec fortitudo lapidum fortitudo mea, nec caro mea ænea est.
12Sức tôi há là sức đá sao? Thịt tôi há dễ là đồng?
13Ecce non est auxilium mihi in me, et necessarii quoque mei recesserunt a me.
13Trong mình tôi chẳng có sự tiếp cứu, sự khôn ngoan bị cất khỏi tôi, Aáy há chẳng phải như vậy sao?
14Qui tollit ab amico suo misericordiam, timorem Domini derelinquit.
14Kẻ gần xui té, đáng được bạn bầu thương xót đến, E kẻo người bỏ sự kính sợ Đấng Toàn năng.
15Fratres mei præterierunt me, sicut torrens qui raptim transit in convallibus.
15Anh em tôi dối gạt tôi như dòng khe cạn nước, Như lòng khe chảy khô.
16Qui timent pruinam, irruet super eos nix.
16Nó bị đục vì cớ nước đá, Có giá tuyết ẩn ở trong.
17Tempore quo fuerint dissipati, peribunt; et ut incaluerit, solventur de loco suo.
17Nhưng trong khi giựt xuống, khe bèn khô cạn, Lúc nắng giọi, nó lại biến khỏi chỗ nó.
18Involutæ sunt semitæ gressuum eorum; ambulabunt in vacuum, et peribunt.
18Đoàn khách đi ngang qua nó bèn tẻ tách đường, Đi vào trong Sa mạc, rồi chết mất.
19Considerate semitas Thema, itinera Saba, et expectate paulisper.
19Đoàn khách ở Thê-ma tìm kiếm nước nó, Các kẻ bộ hành Sê-ba nhờ cậy nó;
20Confusi sunt, quia speravi: venerunt quoque usque ad me, et pudore cooperti sunt.
20Nhưng chúng bị mắc cỡ vì nhờ cậy nơi nó; Khi đến tại khe, bèn phải hổ thẹn.
21Nunc venistis; et modo videntes plagam meam, timetis.
21Hiện nay các bạn cũng không ra gì hết; Các bạn thấy sự đáng kinh khiếp, bèn run sợ.
22Numquid dixi: Afferte mihi, et de substantia vestra donate mihi?
22Tôi há có nói rằng: Xin cung cấp cho tôi, Trong tài sản của các bạn, xin hãy lấy lễ vật dâng cho tôi, sao?
23vel: Liberate me de manu hostis, et de manu robustorum eruite me?
23Hoặc cầu rằng: Xin hãy giải cứu tôi khỏi tay kẻ cừu địch, Và chuộc tôi khỏi tay kẻ hà hiếp ư?
24Docete me, et ego tacebo: et si quid forte ignoravi, instruite me.
24Hãy dạy dỗ tôi, tôi sẽ nín lặng; Xin chỉ cho tôi hiểu tôi đã lầm lỗi nơi nào.
25Quare detraxistis sermonibus veritatis, cum e vobis nullus sit qui possit arguere me?
25Lời chánh trực có sức lực dường bao! Còn lời trách móc của các bạn nào có trách được gì?
26Ad increpandum tantum eloquia concinnatis, et in ventum verba profertis.
26Các bạn muốn trách móc tiếng nói sao? Song lời nói của một người ngã lòng chỉ như luồng gió.
27Super pupillum irruitis, et subvertere nitimini amicum vestrum.
27Quả thật, các bạn xông hãm kẻ mồ côi, Và đào hầm gài bạn hữu mình.
28Verumtamen quod cœpistis explete: præbete aurem, et videte an mentiar.
28Vậy bây giờ, nếu các bạn muốn, hãy ngó tôi, Tôi nào dám nói dối trước mặt các bạn đâu.
29Respondete, obsecro, absque contentione; et loquentes id quod justum est, judicate.
29Xin khá xét lại; chớ có sự bất công; Phải, hãy xét lại, vì duyên cớ tôi là công bình.
30Et non invenietis in lingua mea iniquitatem, nec in faucibus meis stultitia personabit.]
30Có điều bất công nơi lưỡi tôi chăng? ổ gà tôi há chẳng phân biệt điều ác sao?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.