Hiob
Chapter 6
Lutherbibel 1912
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Hiob 6

Lutherbibel 1912Translation
Lutherbibel 1912
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Hiob antwortete und sprach:
1Gióp đáp lại rằng:
2Wenn man doch meinen Unmut wöge und mein Leiden zugleich in die Waage legte!
2Oâi! Chớ gì nỗi buồn tôi nhắc cân cho đúng, Và các tai nạn tôi để lên cân thăng bằng!
3Denn nun ist es schwerer als Sand am Meer; darum gehen meine Worte irre.
3Vì hiện giờ nó nặng hơn cát biển; Nên tại cớ ấy các lời tôi nói đại ra.
4Denn die Pfeile des Allmächtigen stecken in mir: derselben Gift muß mein Geist trinken, und die Schrecknisse Gottes sind auf mich gerichtet.
4Bởi vì các tên của Đấng Toàn năng trúng nhằm tôi; Tâm hồn tôi uống nọc độc của tên ấy; Sự kinh khiếp của Đức Chúa Trời dàn trận nghịch cùng tôi.
5Das Wild schreit nicht, wenn es Gras hat; der Ochse blökt nicht, wenn er sein Futter hat.
5Chớ thì con lừa rừng nào kêu la khi có cỏ? Con bò nào rống khi có lương thảo?
6Kann man auch essen, was ungesalzen ist? Oder wer mag kosten das Weiße um den Dotter?
6Vật chi lạt lẽo, người ta nào ăn chẳng bỏ muối? Còn trong tròng trắng trứng gà, đâu có mùi lai gì?
7Was meine Seele widerte anzurühren, das ist meine Speise, mir zum Ekel.
7Vật gì linh hồn tôi từ chối đá đến, Lại trở nên vật thực gớm ghê của tôi.
8O, daß meine Bitte geschähe und Gott gäbe mir, was ich hoffe!
8Oâi! Chớ gì lời sở cầu tôi được thành, Và Đức Chúa Trời ban cho tôi điều tôi ao ước!
9Daß Gott anfinge und zerschlüge mich und ließe seine Hand gehen und zerscheiterte mich!
9Chớ chi Đức Chúa Trời đẹp lòng cà tán tôi, Buông tay Ngài ra trừ diệt tôi!
10So hätte ich nun Trost, und wollte bitten in meiner Krankheit, daß er nur nicht schonte, habe ich doch nicht verleugnet die Reden des Heiligen.
10Vậy, tôi sẽ còn được an ủi, Và trong cơn đau đớn chẳng giản, Tôi sẽ vui mừng, bởi vì không có từ chối lời phán của Đấng Thánh.
11Was ist meine Kraft, daß ich möge beharren? und welches ist mein Ende, daß meine Seele geduldig sein sollte?
11Sức lực tôi nào đủ đợi cho nỗi, Cuối cùng tôi sẽ ra sao, mà tôi lại nhẫn nhịn được?
12Ist doch meine Kraft nicht steinern und mein Fleisch nicht ehern.
12Sức tôi há là sức đá sao? Thịt tôi há dễ là đồng?
13Habe ich doch nirgend Hilfe, und mein Vermögen ist dahin.
13Trong mình tôi chẳng có sự tiếp cứu, sự khôn ngoan bị cất khỏi tôi, Aáy há chẳng phải như vậy sao?
14Wer Barmherzigkeit seinem Nächsten verweigert, der verläßt des Allmächtigen Furcht.
14Kẻ gần xui té, đáng được bạn bầu thương xót đến, E kẻo người bỏ sự kính sợ Đấng Toàn năng.
15Meine Brüder trügen wie ein Bach, wie Wasserströme, die vergehen,
15Anh em tôi dối gạt tôi như dòng khe cạn nước, Như lòng khe chảy khô.
16die trübe sind vom Eis, in die der Schnee sich birgt:
16Nó bị đục vì cớ nước đá, Có giá tuyết ẩn ở trong.
17zur Zeit, wenn sie die Hitze drückt, versiegen sie; wenn es heiß wird, vergehen sie von ihrer Stätte.
17Nhưng trong khi giựt xuống, khe bèn khô cạn, Lúc nắng giọi, nó lại biến khỏi chỗ nó.
18Die Reisezüge gehen ab vom Wege, sie treten aufs Ungebahnte und kommen um;
18Đoàn khách đi ngang qua nó bèn tẻ tách đường, Đi vào trong Sa mạc, rồi chết mất.
19die Reisezüge von Thema blicken ihnen nach, die Karawanen von Saba hofften auf sie:
19Đoàn khách ở Thê-ma tìm kiếm nước nó, Các kẻ bộ hành Sê-ba nhờ cậy nó;
20aber sie wurden zu Schanden über ihrer Hoffnung und mußten sich schämen, als sie dahin kamen.
20Nhưng chúng bị mắc cỡ vì nhờ cậy nơi nó; Khi đến tại khe, bèn phải hổ thẹn.
21So seid ihr jetzt ein Nichts geworden, und weil ihr Jammer sehet, fürchtet ihr euch.
21Hiện nay các bạn cũng không ra gì hết; Các bạn thấy sự đáng kinh khiếp, bèn run sợ.
22Habe ich auch gesagt: Bringet her von eurem Vermögen und schenkt mir
22Tôi há có nói rằng: Xin cung cấp cho tôi, Trong tài sản của các bạn, xin hãy lấy lễ vật dâng cho tôi, sao?
23und errettet mich aus der Hand des Feindes und erlöst mich von der Hand der Gewalttätigen?
23Hoặc cầu rằng: Xin hãy giải cứu tôi khỏi tay kẻ cừu địch, Và chuộc tôi khỏi tay kẻ hà hiếp ư?
24Lehret mich, so will ich schweigen; und was ich nicht weiß, darin unterweist mich.
24Hãy dạy dỗ tôi, tôi sẽ nín lặng; Xin chỉ cho tôi hiểu tôi đã lầm lỗi nơi nào.
25Warum tadelt ihr rechte Rede? Wer ist unter euch, der sie strafen könnte?
25Lời chánh trực có sức lực dường bao! Còn lời trách móc của các bạn nào có trách được gì?
26Gedenket ihr, Worte zu strafen? Aber eines Verzweifelten Rede ist für den Wind.
26Các bạn muốn trách móc tiếng nói sao? Song lời nói của một người ngã lòng chỉ như luồng gió.
27Ihr fielet wohl über einen armen Waisen her und grübet eurem Nachbarn Gruben.
27Quả thật, các bạn xông hãm kẻ mồ côi, Và đào hầm gài bạn hữu mình.
28Doch weil ihr habt angehoben, sehet auf mich, ob ich vor euch mit Lügen bestehen werde.
28Vậy bây giờ, nếu các bạn muốn, hãy ngó tôi, Tôi nào dám nói dối trước mặt các bạn đâu.
29Antwortet, was recht ist; meine Antwort wird noch recht bleiben.
29Xin khá xét lại; chớ có sự bất công; Phải, hãy xét lại, vì duyên cớ tôi là công bình.
30Ist denn auf meiner Zunge Unrecht, oder sollte mein Gaumen Böses nicht merken?
30Có điều bất công nơi lưỡi tôi chăng? ổ gà tôi há chẳng phân biệt điều ác sao?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.