Hiob 28
Lutherbibel 1912Translation
Lutherbibel 1912
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Es hat das Silber seine Gänge, und das Gold, das man läutert seinen Ort.
1Bạc có mỏ để người ta đào lấy nó, Và vàng có nơi người ta luyện nó.
2Eisen bringt man aus der Erde, und aus den Steinen schmelzt man Erz.
2Sắt từ nơi đất lấy ra, Đá đúc chảy ra mà lấy được đồng.
3Man macht der Finsternis ein Ende und findet zuletzt das Gestein tief verborgen.
3Loài người làm tan tăm tối, Dò xét đến cùng tột, Hòn đá ở nơi âm ẩm tối tăm đen kịch.
4Man bricht einen Schacht von da aus, wo man wohnt; darin hangen und schweben sie als die Vergessenen, da kein Fuß hin tritt, fern von den Menschen.
4Người ta đào mỏ xa chỗ loài người ở trên thế, Tại trong nơi vắng vẻ không chân người đi đến; Chúng bị treo và đòng đưa xa cách loài người,
5Man zerwühlt unten die Erde wie mit Feuer, darauf doch oben die Speise wächst.
5Đất sanh ra lương thực, Còn ở bên dưới nó dường như bị lửa xao lộn.
6Man findet Saphir an etlichen Orten, und Erdenklöße, da Gold ist.
6Các đá nó là chỗ có ngọc bích, Người ta tìm được mạt vàng tại đó.
7Den Steig kein Adler erkannt hat und kein Geiersauge gesehen;
7Chim ăn mồi chẳng biết đường lối nầy; Mắt chim ưng không tìm nó ra được;
8es hat das stolze Wild nicht darauf getreten und ist kein Löwe darauf gegangen.
8Thú dữ không hề bước trên nó, Sư tử chẳng có đi ngang qua đó.
9Auch legt man die Hand an die Felsen und gräbt die Berge um.
9Loài người tra tay trên hòn đá cứng, Đánh đổ các núi từ nơi nền của nó.
10Man reißt Bäche aus den Felsen; und alles, was köstlich ist, sieht das Auge.
10Người đục hang trong hòn đá, Mắt nó tìm được mọi bửu vật ở trong.
11Man wehrt dem Strome des Wassers und bringt, das darinnen verborgen ist, ans Licht.
11Người ngăn nước sông để chẳng rịnh ra; Đem ra sáng điều chi ẩn bí.
12Wo will man aber die Weisheit finden? und wo ist die Stätte des Verstandes?
12Còn sự khôn ngoan tìm được ở đâu? Tại nơi nào có sự thông sáng?
13Niemand weiß, wo sie liegt, und sie wird nicht gefunden im Lande der Lebendigen.
13Người ta chẳng biết được giá trị nó; Nó không ở tại trên đất của loài sống.
14Die Tiefe spricht: “Sie ist in mir nicht”; und das Meer spricht: “Sie ist nicht bei mir”.
14Vực sâu rằng: Nó chẳng có trong tôi, Và biển rằng: Nó không ở cùng tôi.
15Man kann nicht Gold um sie geben noch Silber darwägen, sie zu bezahlen.
15Chẳng dùng vàng ròng đổi lấy nó đặng, Cũng không hề cân bạc mà mua được nó.
16Es gilt ihr nicht gleich ophirisch Gold oder köstlicher Onyx und Saphir.
16Người ta không đánh giá nó với vàng Ô-phia, Hoặc với ngọc hồng mã não hay là với ngọc bích.
17Gold und Glas kann man ihr nicht vergleichen noch um sie golden Kleinod wechseln.
17Chẳng sánh nó được với vàng hay là pha lê, Cũng không đổi nó để lấy khí dụng bằng vàng ròng.
18Korallen und Kristall achtet man gegen sie nicht. Die Weisheit ist höher zu wägen denn Perlen.
18Còn san hô và thủy tinh, thì chẳng cần nói đến; Giá trị sự khôn ngoan thật cao hơn châu báu.
19Topaz aus dem Mohrenland wird ihr nicht gleich geschätzt, und das reinste Gold gilt ihr nicht gleich.
19Ngọc sắc vàng Ê-thi-ô-bi nào sánh cùng nó được đâu; Cũng không hề đánh giá nó với vàng ròng.
20Woher kommt denn die Weisheit? und wo ist die Stätte des Verstandes?
20Vậy thì sự khôn ngoan ở đâu đến? Sự thông sáng ở tại nơi nào?
21Sie ist verhohlen vor den Augen aller Lebendigen, auch den Vögeln unter dem Himmel.
21Nó vẫn giấu khuất mắt các loài sống. Và tránh ẩn các chim trời.
22Der Abgrund und der Tod sprechen: “Wir haben mit unsern Ohren ihr Gerücht gehört.”
22Chốn trầm luân và sự chết nói rằng: Lỗ tai chúng tôi có nghe tiếng đồn về nó.
23Gott weiß den Weg dazu und kennt ihre Stätte.
23Đức Chúa Trời thông hiểu con đường nó, Và rõ biết chỗ ở của nó.
24Denn er sieht die Enden der Erde und schaut alles, was unter dem Himmel ist.
24Vì Ngài nhìn thấu tận các đầu thế gian, Và thấy rõ khắp thiên hạ.
25Da er dem Winde sein Gewicht machte und setzte dem Wasser sein gewisses Maß;
25Khi Ngài định sức nặng cho gió, độ lượng cho các nước,
26da er dem Regen ein Ziel machte und dem Blitz und Donner den Weg:
26Định luật lệ cho mưa, Và lập đường lối cho chớp và sấm.
27da sah er sie und verkündigte sie, bereitete sie und ergründete sie
27Bấy giờ Ngài thấy sự khôn ngoan, và bày tỏ nó ra, Ngài lập nó và dò xét nó nữa;
28und sprach zu den Menschen: Siehe, die Furcht des Herrn, das ist Weisheit; und meiden das Böse, das ist Verstand.
28Đoạn, phán với loài người rằng: Kính sợ Chúa, ấy là sự khôn ngoan; Tránh khỏi điều ác, ấy là sự thông sáng.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.