Job 22
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Respondens autem Eliphaz Themanites, dixit:
1Ê-li-pha, người Thê-man, bèn đáp rằng:
2[Numquid Deo potest comparari homo, etiam cum perfectæ fuerit scientiæ?
2Loài người có ích lợi chi cho Đức Chúa Trời chăng? Người khôn ngoan chỉ ích lợi cho chính mình mình mà thôi.
3Quid prodest Deo, si justus fueris? aut quid ei confers, si immaculata fuerit via tua?
3Dầu ông công bình, Đấng Toàn năng có vui chi chăng? tánh hạnh ông trọn vẹn, ấy được ích lợi gì cho Ngài sao?
4Numquid timens arguet te, et veniet tecum in judicium,
4Có phải vì Ngài sợ ông nên Ngài trách phạt, Và xét đoán ông chăng?
5et non propter malitiam tuam plurimam, et infinitas iniquitates tuas?
5Sự dữ của ông há chẳng phải lớn sao? Các tội ác ông há không phải vô cùng ư?
6Abstulisti enim pignus fratrum tuorum sine causa, et nudos spoliasti vestibus.
6Vì ông đã lấy của cầm của anh em mình vô cớ, Và lột quần áo của kẻ bị trần truồng.
7Aquam lasso non dedisti, et esurienti subtraxisti panem.
7Oâng không cho kẻ khát xin nước uống, Chẳng ban cho người đói bánh ăn.
8In fortitudine brachii tui possidebas terram, et potentissimus obtinebas eam.
8Còn người cường thạnh, đất tất thuộc về người; Ai được nể vì đã ở tại đó.
9Viduas dimisisti vacuas, et lacertos pupillorum comminuisti.
9Oâng có đuổi kẻ góa bụa đi tay không, Bẻ gãy nơi nương nhờ của kẻ mồ côi.
10Propterea circumdatus es laqueis, et conturbat te formido subita.
10Bởi cớ ấy, ông bị bẫy bao vây, Và sự kinh khủng thình lình làm ông rối cực;
11Et putabas te tenebras non visurum, et impetu aquarum inundantium non oppressum iri?
11Hoặc tối tăm ngăn cản cho ông không thấy, Và nước tràn chìm ngập ông.
12an non cogitas quod Deus excelsior cælo sit, et super stellarum verticem sublimetur?
12Đức Chúa Trời há chẳng phải cao như các từng trời cao kia sao? Hãy xem chót các ngôi sao: cao biết bao nhiêu!
13Et dicis: Quid enim novit Deus? et quasi per caliginem judicat.
13Còn ông nói: Đức Chúa Trời biết điều gì? Ngài có thể xét đoán ngang qua tăm tối đen kịch sao?
14Nubes latibulum ejus, nec nostra considerat, et circa cardines cæli perambulat.
14Đám mây mịt mịt che phủ Ngài, nên Ngài chẳng thấy; Ngài bước đi trên bầu các từng trời.
15Numquid semitam sæculorum custodire cupis, quam calcaverunt viri iniqui,
15Oâng sẽ giữ theo lối xưa, Mà các kẻ gian ác đã đi sao?
16qui sublati sunt ante tempus suum, et fluvius subvertit fundamentum eorum?
16Chúng nó bị truất diệt trước kỳ định, Cái nền họ bị dòng nước đánh trôi đi;
17Qui dicebant Deo: Recede a nobis: et quasi nihil posset facere Omnipotens, æstimabant eum,
17Chúng nó nói với Đức Chúa Trời rằng: Chúa hãy lìa khỏi chúng tôi; Lại rằng: Đấng Toàn năng sẽ làm được gì cho chúng ta?
18cum ille implesset domos eorum bonis: quorum sententia procul sit a me.
18Dẫu vậy, Ngài có làm cho nhà họ đầy vật tốt: Nguyện các mưu chước kẻ ác hãy cách xa tôi!
19Videbunt justi, et lætabuntur, et innocens subsannabit eos:
19Người công bình thấy điều đó, và vui mừng; Còn người vô tội sẽ nhạo báng chúng nó, mà rằng:
20nonne succisa est erectio eorum? et reliquias eorum devoravit ignis?
20Kẻ dấy lên cùng chúng tôi quả hẳn bị diệt, Và kẻ nào lại của chúng lửa đã thiêu đốt đi.
21Acquiesce igitur ei, et habeto pacem, et per hæc habebis fructus optimos.
21Aáy vậy, ông hãy hòa thuận với Ngài. Hãy ở bình an: nhờ đó phước hạnh sẽ giáng cho ông.
22Suscipe ex ore illius legem, et pone sermones ejus in corde tuo.
22Hãy nhận lãnh luật pháp từ nơi miệng Ngài. Và để các lời Ngài vào lòng của mình.
23Si reversus fueris ad Omnipotentem, ædificaberis, et longe facies iniquitatem a tabernaculo tuo.
23Nếu ông trở lại cùng Đấng Toàn năng, tất ông sẽ được lập lại. Nếu ông trừ bỏ sự gian ác khỏi trại mình,
24Dabit pro terra silicem, et pro silice torrentes aureos.
24Ném bửu vật mình vào bụi đất, Và quăng vàng Ô phia giữa các hòn đá của khe,
25Eritque Omnipotens contra hostes tuos, et argentum coacervabitur tibi.
25Thì Đấng Toàn năng sẽ là bửu vật của ông, Ngài sẽ là bạc quí cho ông.
26Tunc super Omnipotentem deliciis afflues, et elevabis ad Deum faciem tuam.
26Vì bấy giờ, ông sẽ được vui sướng nơi Đấng Toàn năng, Và được ngước mắt lên cùng Đức Chúa Trời.
27Rogabis eum, et exaudiet te, et vota tua reddes.
27Oâng sẽ cầu khẩn cùng Ngài, Ngài sẽ nghe lời mình, Và ông sẽ trả xong lời khẩn nguyện mình.
28Decernes rem, et veniet tibi, et in viis tuis splendebit lumen.
28Nếu ông nhất định việc gì, việc ấy chắc sẽ được thành; Aùnh sáng sẽ chói trên đường lối mình.
29Qui enim humiliatus fuerit, erit in gloria, et qui inclinaverit oculos, ipse salvabitur.
29Khi người ta gây cho mình bị hạ xuống, thì ông sẽ nói rằng: Hãy chổi lên! Còn kẻ khiêm nhường Đức Chúa Trời sẽ cứu rỗi;
30Salvabitur innocens: salvabitur autem in munditia manuum suarum.]
30Đến đỗi Ngài sẽ giải cứu kẻ có tội; Thật, kẻ ấy sẽ nhờ sự thanh sạch của tay ông mà được cứu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.