Job 22
Louis Segond 1910Translation
Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Éliphaz de Théman prit la parole et dit:
1Ê-li-pha, người Thê-man, bèn đáp rằng:
2Un homme peut-il être utile à Dieu? Non; le sage n’est utile qu’à lui-même.
2Loài người có ích lợi chi cho Đức Chúa Trời chăng? Người khôn ngoan chỉ ích lợi cho chính mình mình mà thôi.
3Si tu es juste, est-ce à l’avantage du Tout-Puissant? Si tu es intègre dans tes voies, qu’y gagne-t-il?
3Dầu ông công bình, Đấng Toàn năng có vui chi chăng? tánh hạnh ông trọn vẹn, ấy được ích lợi gì cho Ngài sao?
4Est-ce par crainte de toi qu’il te châtie, Qu’il entre en jugement avec toi?
4Có phải vì Ngài sợ ông nên Ngài trách phạt, Và xét đoán ông chăng?
5Ta méchanceté n’est-elle pas grande? Tes iniquités ne sont-elles pas infinies?
5Sự dữ của ông há chẳng phải lớn sao? Các tội ác ông há không phải vô cùng ư?
6Tu enlevais sans motif des gages à tes frères, Tu privais de leurs vêtements ceux qui étaient nus;
6Vì ông đã lấy của cầm của anh em mình vô cớ, Và lột quần áo của kẻ bị trần truồng.
7Tu ne donnais point d’eau à l’homme altéré, Tu refusais du pain à l’homme affamé.
7Oâng không cho kẻ khát xin nước uống, Chẳng ban cho người đói bánh ăn.
8Le pays était au plus fort, Et le puissant s’y établissait.
8Còn người cường thạnh, đất tất thuộc về người; Ai được nể vì đã ở tại đó.
9Tu renvoyais les veuves à vide; Les bras des orphelins étaient brisés.
9Oâng có đuổi kẻ góa bụa đi tay không, Bẻ gãy nơi nương nhờ của kẻ mồ côi.
10C’est pour cela que tu es entouré de pièges, Et que la terreur t’a saisi tout à coup.
10Bởi cớ ấy, ông bị bẫy bao vây, Và sự kinh khủng thình lình làm ông rối cực;
11Ne vois-tu donc pas ces ténèbres, Ces eaux débordées qui t’envahissent?
11Hoặc tối tăm ngăn cản cho ông không thấy, Và nước tràn chìm ngập ông.
12Dieu n’est-il pas en haut dans les cieux? Regarde le sommet des étoiles, comme il est élevé!
12Đức Chúa Trời há chẳng phải cao như các từng trời cao kia sao? Hãy xem chót các ngôi sao: cao biết bao nhiêu!
13Et tu dis: Qu’est-ce que Dieu sait? Peut-il juger à travers l’obscurité?
13Còn ông nói: Đức Chúa Trời biết điều gì? Ngài có thể xét đoán ngang qua tăm tối đen kịch sao?
14Les nuées l’enveloppent, et il ne voit rien; Il ne parcourt que la voûte des cieux.
14Đám mây mịt mịt che phủ Ngài, nên Ngài chẳng thấy; Ngài bước đi trên bầu các từng trời.
15Eh quoi! Tu voudrais prendre l’ancienne route Qu’ont suivie les hommes d’iniquité?
15Oâng sẽ giữ theo lối xưa, Mà các kẻ gian ác đã đi sao?
16Ils ont été emportés avant le temps, Ils ont eu la durée d’un torrent qui s’écoule.
16Chúng nó bị truất diệt trước kỳ định, Cái nền họ bị dòng nước đánh trôi đi;
17Ils disaient à Dieu: Retire-toi de nous; Que peut faire pour nous le Tout-Puissant?
17Chúng nó nói với Đức Chúa Trời rằng: Chúa hãy lìa khỏi chúng tôi; Lại rằng: Đấng Toàn năng sẽ làm được gì cho chúng ta?
18Dieu cependant avait rempli de biens leurs maisons. Loin de moi le conseil des méchants!
18Dẫu vậy, Ngài có làm cho nhà họ đầy vật tốt: Nguyện các mưu chước kẻ ác hãy cách xa tôi!
19Les justes, témoins de leur chute, se réjouiront, Et l’innocent se moquera d’eux:
19Người công bình thấy điều đó, và vui mừng; Còn người vô tội sẽ nhạo báng chúng nó, mà rằng:
20Voilà nos adversaires anéantis! Voilà leurs richesses dévorées par le feu!
20Kẻ dấy lên cùng chúng tôi quả hẳn bị diệt, Và kẻ nào lại của chúng lửa đã thiêu đốt đi.
21Attache-toi donc à Dieu, et tu auras la paix; Tu jouiras ainsi du bonheur.
21Aáy vậy, ông hãy hòa thuận với Ngài. Hãy ở bình an: nhờ đó phước hạnh sẽ giáng cho ông.
22Reçois de sa bouche l’instruction, Et mets dans ton cœur ses paroles.
22Hãy nhận lãnh luật pháp từ nơi miệng Ngài. Và để các lời Ngài vào lòng của mình.
23Tu seras rétabli, si tu reviens au Tout-Puissant, Si tu éloignes l’iniquité de ta tente.
23Nếu ông trở lại cùng Đấng Toàn năng, tất ông sẽ được lập lại. Nếu ông trừ bỏ sự gian ác khỏi trại mình,
24Jette l’or dans la poussière, L’or d’Ophir parmi les cailloux des torrents;
24Ném bửu vật mình vào bụi đất, Và quăng vàng Ô phia giữa các hòn đá của khe,
25Et le Tout-Puissant sera ton or, Ton argent, ta richesse.
25Thì Đấng Toàn năng sẽ là bửu vật của ông, Ngài sẽ là bạc quí cho ông.
26Alors tu feras du Tout-Puissant tes délices, Tu élèveras vers Dieu ta face;
26Vì bấy giờ, ông sẽ được vui sướng nơi Đấng Toàn năng, Và được ngước mắt lên cùng Đức Chúa Trời.
27Tu le prieras, et il t’exaucera, Et tu accompliras tes vœux.
27Oâng sẽ cầu khẩn cùng Ngài, Ngài sẽ nghe lời mình, Và ông sẽ trả xong lời khẩn nguyện mình.
28A tes résolutions répondra le succès; Sur tes sentiers brillera la lumière.
28Nếu ông nhất định việc gì, việc ấy chắc sẽ được thành; Aùnh sáng sẽ chói trên đường lối mình.
29Vienne l’humiliation, tu prieras pour ton relèvement: Dieu secourt celui dont le regard est abattu.
29Khi người ta gây cho mình bị hạ xuống, thì ông sẽ nói rằng: Hãy chổi lên! Còn kẻ khiêm nhường Đức Chúa Trời sẽ cứu rỗi;
30Il délivrera même le coupable, Qui devra son salut à la pureté de tes mains.
30Đến đỗi Ngài sẽ giải cứu kẻ có tội; Thật, kẻ ấy sẽ nhờ sự thanh sạch của tay ông mà được cứu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.