Job
Chapter 33
Louis Segond 1910
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Job 33

Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Maintenant donc, Job, écoute mes discours, Prête l’oreille à toutes mes paroles!
1Nhưng vậy, hỡi Gióp, xin hãy nghe diễn thuyết tôi. Khá lắng tai nghe các lời nói tôi.
2Voici, j’ouvre la bouche, Ma langue se remue dans mon palais.
2Kìa, tôi đã mở miệng ra, Lưỡi tôi nói trong họng tôi.
3C’est avec droiture de cœur que je vais parler, C’est la vérité pure qu’exprimeront mes lèvres:
3Các lời tôi nói sẽ chiếu theo sự chánh trực của lòng tôi; Điều tôi biết lưỡi tôi sẽ nói cách thành thực.
4L’esprit de Dieu m’a créé, Et le souffle du Tout-Puissant m’anime.
4Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống.
5Si tu le peux, réponds-moi, Défends ta cause, tiens-toi prêt!
5Nếu đáp được, hãy đáp lại cho tôi, Hãy đứng dậy, bày ra lời của ông tại trước mặt tôi!
6Devant Dieu je suis ton semblable, J’ai été comme toi formé de la boue;
6Hãy xem, đối cùng Đức Chúa Trời tôi với ông có khác chi, Tôi cũng bởi đất bùn mà ra.
7Ainsi mes terreurs ne te troubleront pas, Et mon poids ne saurait t’accabler.
7Sự oai nghi tôi nào sẽ làm cho ông kinh khiếp, Và quyền thế tôi sẽ chẳng đè ép ông.
8Mais tu as dit à mes oreilles, Et j’ai entendu le son de tes paroles:
8Quả ông có nói đến tai tôi, Tôi đã nghe tiếng lời của ông nói rằng:
9Je suis pur, je suis sans péché, Je suis net, il n’y a point en moi d’iniquité.
9Tôi trong sạch, không có vi phạm; Tôi vô tội, và trong lòng tôi chẳng có gian ác gì.
10Et Dieu trouve contre moi des motifs de haine, Il me traite comme son ennemi;
10Dầu vậy, Đức Chúa Trời tìm dịp đối địch tôi, Cầm tôi như kẻ thù nghịch Ngài;
11Il met mes pieds dans les ceps, Il surveille tous mes mouvements.
11Ngài riết chân tôi vào cùm, Và coi chừng đường lối tôi.
12Je te répondrai qu’en cela tu n’as pas raison, Car Dieu est plus grand que l’homme.
12Nầy, tôi muốn đáp với ông rằng trong các lời ấy ông nói vô lý; Vì Đức Chúa Trời là lớn hơn loài người.
13Veux-tu donc disputer avec lui, Parce qu’il ne rend aucun compte de ses actes?
13Nhân sao ông tranh luận với Ngài? Ngài không bày giãi điều nào Ngài làm.
14Dieu parle cependant, tantôt d’une manière, Tantôt d’une autre, et l’on n’y prend point garde.
14Vì Đức Chúa Trời phán một lần, Hoặc hai lần; nhưng người ta không để ý đến.
15Il parle par des songes, par des visions nocturnes, Quand les hommes sont livrés à un profond sommeil, Quand ils sont endormis sur leur couche.
15Ngài phán trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Nằm ngủ trên giường mình;
16Alors il leur donne des avertissements Et met le sceau à ses instructions,
16Bấy giờ Ngài mở lỗ tai loài người, Niêm phong lời giáo huấn mà Ngài dạy cho họ,
17Afin de détourner l’homme du mal Et de le préserver de l’orgueil,
17Hầu cho loài nguời khỏi điều họ toan làm, Và giấu họ tánh kiêu ngạo,
18Afin de garantir son âme de la fosse Et sa vie des coups du glaive.
18Cứu linh hồn họ khỏi cái huyệt, Và mạng sống khỏi bị gươm giết,
19Par la douleur aussi l’homme est repris sur sa couche, Quand une lutte continue vient agiter ses os.
19Loài người nằm trên giường mình bị đau đớn sửa phạt, Và xương cốt người hàng tranh chạm nhau mãi mãi,
20Alors il prend en dégoût le pain, Même les aliments les plus exquis;
20Miệng người bèn lấy làm gớm ghiếc vật thực, Và linh hồn người ghét những đồ ăn mĩ vị.
21Sa chair se consume et disparaît, Ses os qu’on ne voyait pas sont mis à nu;
21Thịt người bị tiêu hao không còn thấy nữa, Và xương người, mà trước chẳng thấy được, bèn bị lộ ra.
22Son âme s’approche de la fosse, Et sa vie des messagers de la mort.
22Linh hồn người đến gần cái hầm, Và sự sống người xích lại kẻ giết.
23Mais s’il se trouve pour lui un ange intercesseur, Un d’entre les mille Qui annoncent à l’homme la voie qu’il doit suivre,
23Nếu trong một ngàn thiên sứ, có một thiên sứ làm kẻ truyền-giải cho người, Để chỉ dạy người biết điều ngay thẳng cho người,
24Dieu a compassion de lui et dit à l’ange: Délivre-le, afin qu’il ne descende pas dans la fosse; J’ai trouvé une rançon!
24Aét Đức Chúa Trời làm ơn cho người và phán rằng: “Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống cái hầm; Ta đã tìm đặng giá cứu chuộc rồi”
25Et sa chair a plus de fraîcheur qu’au premier âge, Il revient aux jours de sa jeunesse.
25Người sẽ được thẳng da mát thịt như buổi thơ ấu; Người trở lại ngày đang thì.
26Il adresse à Dieu sa prière; et Dieu lui est propice, Lui laisse voir sa face avec joie, Et lui rend son innocence.
26Người cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn đoái thương người, Khiến người vui mừng xem thấy mặt Ngài, Và Ngài trả lại sự công bình cho người.
27Il chante devant les hommes et dit: J’ai péché, j’ai violé la justice, Et je n’ai pas été puni comme je le méritais;
27Đoạn, người đó sẽ hát trước mặt loài người, mà rằng: “Tôi đã phạm tội, làm hư hoại sự ngay thẳng, Song chẳng có ích gì cho tôi.
28Dieu a délivré mon âme pour qu’elle n’entrât pas dans la fosse, Et ma vie s’épanouit à la lumière!
28Đức Chúa Trời có giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống hầm, Và sự sống tôi sẽ thấy ánh sáng.”
29Voilà tout ce que Dieu fait, Deux fois, trois fois, avec l’homme,
29Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người; Đến hai lần, hoặc ba lần,
30Pour ramener son âme de la fosse, Pour l’éclairer de la lumière des vivants.
30Đặng khiến linh hồn người trở lại khỏi cái hầm, Hầu cho người được ánh sáng kẻ sống chiếu vào cho.
31Sois attentif, Job, écoute-moi! Tais-toi, et je parlerai!
31Hỡi Gióp, hãy chăm chỉ nghe tôi; Khá làm thinh, thì tôi sẽ nói.
32Si tu as quelque chose à dire, réponds-moi! Parle, car je voudrais te donner raison.
32Nếu ông có điều gì muốn nói, hãy đáp lại tôi; Khá nói, vì tôi muốn xưng ông là công bình.
33Si tu n’as rien à dire, écoute-moi! Tais-toi, et je t’enseignerai la sagesse.
33Bằng chẳng, hãy nghe tôi; Hãy làm thinh, thì tôi sẽ dạy cho ông sự khôn ngoan.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.