Job
Chapter 19
Louis Segond 1910
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Job 19

Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Job prit la parole et dit:
1Gióp bèn đáp lời rằng:
2Jusques à quand affligerez-vous mon âme, Et m’écraserez-vous de vos discours?
2Các ngươi làm buồn lòng ta đến chừng nào, Và lấy lời giảng luận khiến cực nhọc ta đến bao giờ?
3Voilà dix fois que vous m’outragez; N’avez-vous pas honte de m’étourdir ainsi?
3Kìa đã mười lần các ngươi quở trách ta, Bạc đãi ta mà không mắc cỡ.
4Si réellement j’ai péché, Seul j’en suis responsable.
4Dầu ta có thật lầm lỗi thế nào, Sự lỗi ta vẫn ở nơi ta.
5Pensez-vous me traiter avec hauteur? Pensez-vous démontrer que je suis coupable?
5Nếu thật các ngươi muốn tự cao đối cùng ta, Lấy sự sỉ nhục ta mà trách móc ta,
6Sachez alors que c’est Dieu qui me poursuit, Et qui m’enveloppe de son filet.
6Vậy, hãy biết rằng ấy Đức Chúa Trời đã đánh đổ ta, Và giang lưới Ngài chung quanh ta.
7Voici, je crie à la violence, et nul ne répond; J’implore justice, et point de justice!
7Nầy tôi kêu la về sự hung bạo, song tôi chẳng đặng nhậm lời. Tôi kêu cầu tiếp cứu, bèn không có sự công bình.
8Il m’a fermé toute issue, et je ne puis passer; Il a répandu des ténèbres sur mes sentiers.
8Chúa có chận đường tôi, tôi chẳng đi qua được. Ngài có để tăm tối trên đường lối tôi.
9Il m’a dépouillé de ma gloire, Il a enlevé la couronne de ma tête.
9Ngài có bóc lột sự vinh quang tôi, Và cất mão triều khỏi đầu tôi.
10Il m’a brisé de toutes parts, et je m’en vais; Il a arraché mon espérance comme un arbre.
10Ngài có làm đồi tệ tôi tứ phía, và tôi hư mất đi; Ngài rứt nhổ sự trông cậy tôi như cây cối.
11Il s’est enflammé de colère contre moi, Il m’a traité comme l’un de ses ennemis.
11Ngài cũng nổi thạnh nộ cùng tôi, Cầm tôi là một kẻ cừu địch Ngài.
12Ses troupes se sont de concert mises en marche, Elles se sont frayées leur chemin jusqu’à moi, Elles ont campé autour de ma tente.
12Các đạo binh Ngài đã cùng nhau kéo tới, Đắp đường họ để đến hãm đánh tôi, Và đóng ở chung quanh trại tôi.
13Il a éloigné de moi mes frères, Et mes amis se sont détournés de moi;
13Ngài khiến các anh em tôi lìa xa tôi, Và những người quen biết tôi trở nên kẻ lạ.
14Je suis abandonné de mes proches, Je suis oublié de mes intimes.
14Các thân thích đều lìa bỏ tôi, Các mật hữu tôi đã quên tôi.
15Je suis un étranger pour mes serviteurs et mes servantes, Je ne suis plus à leurs yeux qu’un inconnu.
15Những kẻ ở trong nhà tôi, và các tớ gái tôi đãi tôi như một khách lạ, Trước mặt chúng, tôi đã trở thành một người ngoài.
16J’appelle mon serviteur, et il ne répond pas; Je le supplie de ma bouche, et c’est en vain.
16Tôi gọi kẻ tôi tớ tôi, mà nó không thưa, Dẫu tôi lấy miệng mình nài xin nó cũng vậy.
17Mon humeur est à charge à ma femme, Et ma plainte aux fils de mes entrailles.
17Hơi thở tôi làm gớm ghiếc cho vợ tôi, Và con trai của mẹ tôi ghét lời cầu khẩn tôi.
18Je suis méprisé même par des enfants; Si je me lève, je reçois leurs insultes.
18Đến đỗi những đứa trẻ cũng khi tôi; Nếu tôi chổi dậy, chúng nó nhạo báng tôi.
19Ceux que j’avais pour confidents m’ont en horreur, Ceux que j’aimais se sont tournés contre moi.
19Các bạn thân thiết đều gớm ghét tôi, Những người tôi thương mến đã trở nghịch tôi.
20Mes os sont attachés à ma peau et à ma chair; Il ne me reste que la peau des dents.
20Xương cốt tôi sát vào da và thịt tôi, Tôi đã thoát được chỉ còn da bọc răng tôi mà thôi.
21Ayez pitié, ayez pitié de moi, vous, mes amis! Car la main de Dieu m’a frappé.
21Hỡi các bằng hữu tôi, hãy thương xót tôi, hãy thương xót tôi! Vì tay của Đức Chúa Trời đã đánh tôi.
22Pourquoi me poursuivre comme Dieu me poursuit? Pourquoi vous montrer insatiables de ma chair?
22Cớ sao các bạn bắt bớ tôi như Đức Chúa Trời, Và chưa no nê thịt tôi sao?
23Oh! Je voudrais que mes paroles fussent écrites, Qu’elles fussent écrites dans un livre;
23Oâi! Chớ chi các lời tôi đã biên chép! Ước gì nó được ghi trong một quyển sách!
24Je voudrais qu’avec un burin de fer et avec du plomb Elles fussent pour toujours gravées dans le roc…
24Chớ gì lấy cây viết bằng sắt và chì, Mà khắc nó trên đá lưu đến đời đời!
25Mais je sais que mon rédempteur est vivant, Et qu’il se lèvera le dernier sur la terre.
25Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, Đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất.
26Quand ma peau sera détruite, il se lèvera; Quand je n’aurai plus de chair, je verrai Dieu.
26Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy, đã bị tan nát, Bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời;
27Je le verrai, et il me sera favorable; Mes yeux le verront, et non ceux d’un autre; Mon âme languit d’attente au-dedans de moi.
27Chính tôi sẽ thấy Ngài, Mắt tôi sẽ nhìn xem Ngài, chớ chẳng phải kẻ khác: Lòng tôi hao mòn trong mình tôi.
28Vous direz alors: Pourquoi le poursuivions-nous? Car la justice de ma cause sera reconnue.
28Nếu các bạn nói rằng: Chúng ta sẽ khuấy rầy người làm sao? Và rằng căn nguyên tai họa vốn tìm tại trong mình tôi,
29Craignez pour vous le glaive: Les châtiments par le glaive sont terribles! Et sachez qu’il y a un jugement.
29Khá sợ mũi gươm, Vì gươm là một khí giới hung tàn phạt tội gian ác, Để các bạn biết rằng có sự phán xét.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.