Job
Chapter 15
Clementine Vulgate, 1598
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Job 15

Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Respondens autem Eliphaz Themanites, dixit:
1Ê-li-pha, người Thê-man, đáp rằng:
2[Numquid sapiens respondebit quasi in ventum loquens, et implebit ardore stomachum suum?
2Người khôn ngoan há đáp bằng lời tri thức hư không, Và phình bụng mình bằng gió đông sao?
3Arguis verbis eum qui non est æqualis tibi, et loqueris quod tibi non expedit.
3Người há có nên lấy lời vô ích mà chữa mình, Dùng câu giảng luận vô dụng mà binh vực sao?.
4Quantum in te est, evacuasti timorem, et tulisti preces coram Deo.
4Thật ông hủy điều kính sợ Đức Chúa Trời, Ngăn trở sự suy gẫm trước mặt Ngài.
5Docuit enim iniquitas tua os tuum, et imitaris linguam blasphemantium.
5Vì sự gian ác ông dạy dỗ cho miệng mình nói, Và ông chọn lưỡi của kẻ quỉ quyệt.
6Condemnabit te os tuum, et non ego: et labia tua respondebunt tibi.
6Miệng ông định tội cho ông, chớ chẳng phải tôi; Và môi ông làm chứng dối nghịch cùng ông.
7Numquid primus homo tu natus es, et ante colles formatus?
7Có phải ông sanh ra đầu trước hết chăng? Há đã được dựng nên trước non núi sao?
8numquid consilium Dei audisti, et inferior te erit ejus sapientia?
8Chớ thì ông có nghe điều bàn định trong ý nhiệm của Đức chúa Trời sao? Há chỉ một mình ông được khôn ngoan ư?
9Quid nosti quod ignoremus? quid intelligis quod nesciamus?
9Oâng biết chi, mà chúng tôi chẳng biết? Oâng thông hiểu gì mà chúng tôi lại không thông hiểu?
10Et senes et antiqui sunt in nobis, multo vetustiores quam patres tui.
10Giữa vòng chúng tôi cũng có người tóc bạc, kẻ già cả, Được tuổi cao tác lớn hơn cha của ông.
11Numquid grande est ut consoletur te Deus? sed verba tua prava hoc prohibent.
11Sự an ủi của Đức chúa Trời, và lời êm dịu nói cho ông nghe, Há là điều nhỏ mọn cho ông sao?
12Quid te elevat cor tuum, et quasi magna cogitans attonitos habes oculos?
12Nhân sao lòng ông bức tức, Và mắt ông ngó chớp lách?
13Quid tumet contra Deum spiritus tuus, ut proferas de ore tuo hujuscemodi sermones?
13Cớ gì mà tâm thần ông phản đối cùng Đức Chúa Trời, Khiến những lời dường ấy ra khỏi miệng ông?
14Quid est homo ut immaculatus sit, et ut justus appareat natus de muliere?
14Loài người là chi, mà lại là thanh sạch? Kẻ do người nữ sanh ra là gì, mà lại là công bình?
15Ecce inter sanctos ejus nemo immutabilis, et cæli non sunt mundi in conspectu ejus.
15Kìa, Đức Chúa Trời không tin cậy các thánh đồ Ngài, Đến đỗi các từng trời cũng chẳng trong sạch trước mặt Ngài thay:
16Quanto magis abominabilis et inutilis homo, qui bibit quasi aquam iniquitatem?
16Phương chi một người gớm ghiếc và hư nát, Kẻ hay uống gian ác như nước!
17Ostendam tibi: audi me: quod vidi, narrabo tibi.
17Tôi sẽ dạy ông, ông hãy nghe tôi; Tôi sẽ thuật cho ông điều tôi đã thấy,
18Sapientes confitentur, et non abscondunt patres suos:
18Là điều kẻ khôn ngoan tỏ ra theo tổ phụ mình, Không giấu giếm;
19quibus solis data est terra, et non transivit alienus per eos.
19Xứ đã được ban cho chúng mà thôi, Không có người ngoại bang nào được vào giữa bọn họ:
20Cunctis diebus suis impius superbit, et numerus annorum incertus est tyrannidis ejus.
20Trọn đời người hung ác bị đau đớn cực lòng, Số ít năm để dành cho kẻ hà hiếp.
21Sonitus terroris semper in auribus illius: et cum pax sit, ille semper insidias suspicatur.
21Tiếng hoảng kinh vang nơi lỗ tai người; Đang chừng lợi đặt, kẻ phá hoại sẽ xông vào người.
22Non credit quod reverti possit de tenebris ad lucem, circumspectans undique gladium.
22Người tưởng không ra khỏi tăm tối được, Và có gươm rình giết người đi.
23Cum se moverit ad quærendum panem, novit quod paratus sit in manu ejus tenebrarum dies.
23Người đi chỗ nầy qua nơi nọ để tìm bánh, mà rằng: Bánh tìm ở đâu? Người biết rằng ngày tăm tối đã sẵn bên mình.
24Terrebit eum tribulatio, et angustia vallabit eum, sicut regem qui præparatur ad prælium.
24Sự gian nan buồn thảm làm cho người kinh hãi, Xông áp vào người như một vua sẵn sàng chinh chiến
25Tetendit enim adversus Deum manum suam, et contra Omnipotentem roboratus est.
25Vì người có giơ tay lên chống cự Đức Chúa Trời, Và cư xử cách kiêu ngạo với Đấng Toàn năng.
26Cucurrit adversus eum erecto collo, et pingui cervice armatus est.
26Người núp dưới gu khiên, ngước thẳng cổ, và xông đến Chúa;
27Operuit faciem ejus crassitudo, et de lateribus ejus arvina dependet.
27Vì người lấy sự phì béo che mặt mình, Làm cho hai hông mình ra mập mạp.
28Habitavit in civitatibus desolatis, et in domibus desertis, quæ in tumulos sunt redactæ.
28Người đã ở những thành bị phá hoại, ỳ những nhà bỏ hoang, gần trở nên đổ đống;
29Non ditabitur, nec perseverabit substantia ejus, nec mittet in terra radicem suam.
29Người sẽ không trở nên giàu; của cải người cũng sẽ chẳng bền lâu, Và sản nghiệp người sẽ chẳng lan ra trên đất.
30Non recedet de tenebris: ramos ejus arefaciet flamma, et auferetur spiritu oris sui.
30Người sẽ chẳng được ra khỏi tối tăm; Ngọn lửa làm khô héo chồi của người, Và người sẽ bị hơi thở miệng Chúa đem đi mất.
31Non credet, frustra errore deceptus, quod aliquo pretio redimendus sit.
31Người chớ nên cậy sự hư không mà bị lừa dối; Vì sự hư không sẽ là phần thưởng của người.
32Antequam dies ejus impleantur peribit, et manus ejus arescent.
32Sự nầy sẽ trọn vẹn trước nhựt kỳ người chưa xảy đến, Còn các nhành người sẽ chẳng xanh tươi.
33Lædetur quasi vinea in primo flore botrus ejus, et quasi oliva projiciens florem suum.
33Người bỏ quây trái cây xanh mình như một cây nho; Người làm rụng hoa mình như cây Ô li-ve.
34Congregatio enim hypocritæ sterilis, et ignis devorabit tabernacula eorum qui munera libenter accipiunt.
34Vì dòng dõi kẻ vô đạo không sanh sản, Lửa sẽ tiêu diệt nhà trại kẻ ăn hối lộ.
35Concepit dolorem, et peperit iniquitatem, et uterus ejus præparat dolos.]
35Họ thọ thai sự ác, bèn sanh ra điều hại tàn, Lòng họ sắm sẵn những chước gian.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.