Job 10
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1[Tædet animam meam vitæ meæ; dimittam adversum me eloquium meum: loquar in amaritudine animæ meæ.
1Linh hồn tôi đã chán ngán sự sống tôi; Tôi sẽ buông thả lời than thở của tôi, Tôi sẽ nói vì cơn cay đắng của lòng tôi.
2Dicam Deo: Noli me condemnare; indica mihi cur me ita judices.
2Tôi sẽ thưa với Đức Chúa Trời rằng: Xin chớ đoán phạt tôi; Hãy tỏ cho tôi biết nhân sao Chúa tranh luận với tôi.
3Numquid bonum tibi videtur, si calumnieris me, et opprimas me opus manuum tuarum, et consilium impiorum adjuves?
3Chúa há đẹp lòng đè ép, Khinh bỉ công việc của tay Ngài, Và chiếu sáng trên mưu chước của kẻ ác sao?
4Numquid oculi carnei tibi sunt? aut sicut videt homo, et tu videbis?
4Chúa có mắt xác thịt ư? Chúa thấy như người phàm thấy sao?
5Numquid sicut dies hominis dies tui, et anni tui sicut humana sunt tempora,
5Các ngày của Chúa há như ngày loài người ư? Các năm của Chúa há như năm loài người sao?
6ut quæras iniquitatem meam, et peccatum meum scruteris,
6Sao Chúa tra hạch gian ác tôi, Tìm kiếm tội lỗi tôi,
7et scias quia nihil impium fecerim, cum sit nemo qui de manu tua possit eruere?
7Dầu Chúa biết tôi chẳng phải gian ác, Và không ai giải thoát khỏi tay Chúa?
8Manus tuæ fecerunt me, et plasmaverunt me totum in circuitu: et sic repente præcipitas me?
8Tay Chúa đã dựng nên tôi, nắn giọt trót mình tôi; Nhưng nay Chúa lại hủy diệt tôi!
9Memento, quæso, quod sicut lutum feceris me, et in pulverem reduces me.
9Xin Chúa nhớ rằng Chúa đã nắn hình tôi như đồ gốm; Mà Chúa lại muốn khiến tôi trở vào tro bụi sao?
10Nonne sicut lac mulsisti me, et sicut caseum me coagulasti?
10Chúa há chẳng có rót tôi chảy như sữa, Làm tôi ra đặc như bánh sữa ư?
11Pelle et carnibus vestisti me; ossibus et nervis compegisti me.
11Chúa đã mặc cho tôi da và thịt, Lấy xương và gân đang tréo tôi.
12Vitam et misericordiam tribuisti mihi, et visitatio tua custodivit spiritum meum.
12Chúa đã ban cho tôi mạng sống và điều nhân từ; Sự Chúa đoái hoài tôi đã gìn giữ tâm hồn tôi.
13Licet hæc celes in corde tuo, tamen scio quia universorum memineris.
13Dầu vậy, Chúa giấu các điều nầy nơi lòng Chúa; Tôi biết điều ấy ở trong tư tưởng của Ngài.
14Si peccavi, et ad horam pepercisti mihi, cur ab iniquitate mea mundum me esse non pateris?
14Nếu tôi phạm tội, Chúa sẽ xem xét tôi, Chẳng dung tha gian ác tôi.
15Et si impius fuero, væ mihi est; et si justus, non levabo caput, saturatus afflictione et miseria.
15Nếu tôi làm hung ác, thì khốn cho tôi thay! Còn nếu tôi ăn ở công bình, tôi cũng chẳng dám ngước đầu lên, Vì đã bị đầy dẫy sỉ nhục, và thấy sự khổ nạn tôi.
16Et propter superbiam quasi leænam capies me, reversusque mirabiliter me crucias.
16Ví bằng tôi ngước đầu lên, hẳn quả Chúa sẽ săn tôi như sư tử, và tỏ ra nơi tôi quyền diệu kỳ của Ngài.
17Instauras testes tuos contra me, et multiplicas iram tuam adversum me, et pœnæ militant in me.
17Chúa đặt chứng mới đối nghịch tôi, Và gia thêm sự giận cùng tôi: Đau đớn liên tiếp, và thì khốn khó theo tôi.
18Quare de vulva eduxisti me? qui utinam consumptus essem, ne oculus me videret.
18Nhân sao Chúa đem tôi ra khỏi lòng mẹ tôi? Phải chi đã tắt hơi, thì chẳng con mắt nào thấy tôi!
19Fuissem quasi non essem, de utero translatus ad tumulum.
19Bằng vậy, tôi sẽ như đã không hề có; Vì mới lọt lòng mẹ, bèn bị đem đến mồ mã!
20Numquid non paucitas dierum meorum finietur brevi? dimitte ergo me, ut plangam paululum dolorem meum,
20Các ngày tôi há chẳng phải ít ỏi sao? Vậy, Chúa ôi, khá ngưng dứt đi, Hãy dời khỏi tôi đi, để tôi được an ủi một chút,
21antequam vadam, et non revertar, ad terram tenebrosam, et opertam mortis caligine:
21Trước khi tôi đi đến xứ tối tăm và bóng sự chết, không hề trở lại;
22terram miseriæ et tenebrarum, ubi umbra mortis et nullus ordo, sed sempiternus horror inhabitat.]
22Tức đất tối đen như mực, Là miền có bóng sự chết, chỉ có sự hỗn độn tại đó, Và ánh sáng không khác hơn tối tăm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.