Job 38
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Respondens autem Dominus Job de turbine, dixit:
1Bấy giờ, từ giữa cơn gió trốt, Đức Chúa Trời đáp cùng Gióp rằng:
2[Quis est iste involvens sententias sermonibus imperitis?
2Kẻ nầy là ai dám dùng các lời không tri thức, Mà làm cho mờ ám các mưu định ta?
3Accinge sicut vir lumbos tuos: interrogabo te, et responde mihi.
3Khá thắt lưng người như kẻ dõng sĩ; Ta sẽ hỏi ngươi, ngươi sẽ chỉ dạy cho ta!
4Ubi eras quando ponebam fundamenta terræ? indica mihi, si habes intelligentiam.
4Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu? Nếu ngươi thông sáng, hãy tỏ bày đi.
5Quis posuit mensuras ejus, si nosti? vel quis tetendit super eam lineam?
5Ai đã định độ lượng nó, Và giăng dây mực trên nó, ngươi có biết chăng?
6Super quo bases illius solidatæ sunt? aut quis demisit lapidem angularem ejus,
6Nền nó đặt trên chi? Ai có trồng hòn đá góc của nó?
7cum me laudarent simul astra matutina, et jubilarent omnes filii Dei?
7Trong khi ấy các sao mai đồng hát hòa nhau, Và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng.
8Quis conclusit ostiis mare, quando erumpebat quasi de vulva procedens;
8Vả lại, khi biển bể bờ và cất ra khỏi lòng đất, Ai đã lấy các cửa mà ngăn đóng nó lại?
9cum ponerem nubem vestimentum ejus, et caligine illud quasi pannis infantiæ obvolverem?
9Khi ấy ta ban cho nó mây làm áo xống, Lấy tăm tối làm khăn vấn của nó;
10Circumdedi illud terminis meis, et posui vectem et ostia,
10Ta định giới hạn cho nó, Đặt then chốt và cửa của nó,
11et dixi: Usque huc venies, et non procedes amplius, et hic confringes tumentes fluctus tuos.
11Mà rằng: Mầy đến đây, chớ không đi xa nữa, Các lượn sóng kiêu ngạo mầy phải dừng lại tại đây!
12Numquid post ortum tuum præcepisti diluculo, et ostendisti auroræ locum suum?
12Từ khi ngươi sanh, ngươi há có sai khiến buổi sáng, Và phân định chỗ cho hừng đông,
13Et tenuisti concutiens extrema terræ, et excussisti impios ex ea?
13Để nó chiếu đến bốn bề trái đất, Và đuổi rảy kẻ gian ác khỏi nó chăng?
14Restituetur ut lutum signaculum, et stabit sicut vestimentum:
14Trái đất biến hình như đất sét dưới dấu ấn, Và mọi vật hiện ra trau giồi như bằng áo.
15auferetur ab impiis lux sua, et brachium excelsum confringetur.
15Sự sáng đã cất khỏi kẻ ác, Cánh tay chúng nó giơ lên, đã bị gãy rồi.
16Numquid ingressus es profunda maris, et in novissimis abyssi deambulasti?
16Chớ thì ngươi có thấu đến nguồn của biển sao? Há có bước dưới đáy của vực sâu chăng?
17Numquid apertæ sunt tibi portæ mortis, et ostia tenebrosa vidisti?
17Cửa âm phủ há có bày ra trước mặt ngươi chớ? Có thấy các cửa của bóng sự chết chăng?
18Numquid considerasti latitudinem terræ? indica mihi, si nosti, omnia:
18Lằn mắt ngươi có thấu đến nơi khoan khoát mênh mông của đất chăng? Nếu ngươi biết các điều đó, hãy nói đi.
19in qua via lux habitet, et tenebrarum quis locus sit:
19Con đường dẫn đến nơi ở của ánh sáng là đâu? Còn nơi của tối tăm thì ở đâu?
20ut ducas unumquodque ad terminos suos, et intelligas semitas domus ejus.
20Chớ thì ngươi có thế dẫn nó lại vào địa giới nó sao? Có biết các đường lối của nhà nó ở chăng?
21Sciebas tunc quod nasciturus esses, et numerum dierum tuorum noveras?
21Không sai, người biết mà! Vì ngươi đã sanh trước khi ấy, Số ngày ngươi lấy làm nhiều thay
22Numquid ingressus es thesauros nivis, aut thesauros grandinis aspexisti,
22Ngươi có vào các kho tuyết chăng? Có thấy nơi chứa mưa đá,
23quæ præparavi in tempus hostis, in diem pugnæ et belli?
23Mà ta đã để dành cho thì hoạn nạn, Cho ngày chiến trận và giặc giã chăng?
24Per quam viam spargitur lux, dividitur æstus super terram?
24Aùnh sáng phân ra bởi đường nào, Và gió đông theo lối nào mà thổi ra trên đất?
25Quis dedit vehementissimo imbri cursum, et viam sonantis tonitrui,
25Ai đào kinh cho nước mưa chảy, Phóng đường cho chớp nhoáng của sấm sét,
26ut plueret super terram absque homine in deserto, ubi nullus mortalium commoratur;
26Để mưa xuống đất bỏ hoang, Và trên đồng vắng không có người ở;
27ut impleret inviam et desolatam, et produceret herbas virentes?
27Đặng tưới đất hoang vu, mong quạnh, Và làm cho các chồi cây cỏ mọc lên?
28Quis est pluviæ pater? vel quis genuit stillas roris?
28Mưa có cha chăng? Ai sanh các giọt sương ra?
29De cujus utero egressa est glacies? et gelu de cælo quis genuit?
29Nước đá ra bởi lòng của ai? Ai đẻ ra sương móc của trời?
30In similitudinem lapidis aquæ durantur, et superficies abyssi constringitur.
30Nước đông lại như đá, rồi ẩn bí, Và mặt vực sâu trở thành cứng.
31Numquid conjungere valebis micantes stellas Pleiadas, aut gyrum Arcturi poteris dissipare?
31Ngươi có thế riết các dây chằng Sao rua lại, Và tách các xiềng Sao cầy ra chăng?
32Numquid producis luciferum in tempore suo, et vesperum super filios terræ consurgere facis?
32Ngươi có thế làm cho các cung Huỳnh đạo ra theo thì, Và dẫn đường cho Bắc đẩu với các sao theo nó chăng?
33Numquid nosti ordinem cæli, et pones rationem ejus in terra?
33Ngươi có biết luật của các từng trời sao? Có thể lập chủ quyền nó dưới đất chăng?
34Numquid elevabis in nebula vocem tuam, et impetus aquarum operiet te?
34Ngươi có thế cất tiếng mình la lên cùng mây, Khiến cho mưa tuôn xuống thân ngươi chăng?
35Numquid mittes fulgura, et ibunt, et revertentia dicent tibi: Adsumus?
35Ngươi có thế thả chớp nhoáng ra, Để nó đi, và đáp với ngươi rằng: Thưa, chúng tôi đây?
36Quis posuit in visceribus hominis sapientiam? vel quis dedit gallo intelligentiam?
36Ai có đặt khôn ngoan trong lòng, Và ban sự thông sáng cho trí não?
37Quis enarrabit cælorum rationem? et concentum cæli quis dormire faciet?
37Ai nhờ sự khôn ngoan mà đếm được các mây? Khi bụi đất chảy như loài kim tan ra,
38Quando fundebatur pulvis in terra, et glebæ compingebantur?
38Và các cục đất dính lại nhau, Ai nghiêng đổ những bình nước của các từng trời?
39Numquid capies leænæ prædam, et animam catulorum ejus implebis,
39(039-2) Há có phải ngươi săn mồi cho sư tử cái, Và làm cho sư tử con đói được no sao?
40quando cubant in antris, et in specubus insidiantur?
40(039-1) Khi mẹ con sư tử nằm phục nơi hang, Khi rình trong bụi-rậm nó,
41Quis præparat corvo escam suam, quando pulli ejus clamant ad Deum, vagantes, eo quod non habeant cibos?]
41(039-3) Ai sắm đồ ăn cho quạ, Khi con nhỏ nó kêu la cùng Đức Chúa Trời, Và bay đi đây đó không đồ ăn?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.