Ijob 38
Londona Biblio (Esperanto, 1910)Translation
Londona Biblio (Esperanto, 1910)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1La Eternulo el ventego ekparolis al Ijob, kaj diris:
1Bấy giờ, từ giữa cơn gió trốt, Đức Chúa Trời đáp cùng Gióp rằng:
2Kiu estas tiu, kiu mallumigas la plej altan decidon Per vortoj sensencaj?
2Kẻ nầy là ai dám dùng các lời không tri thức, Mà làm cho mờ ám các mưu định ta?
3Zonu kiel viro viajn lumbojn; Mi vin demandos, kaj vi sciigu al Mi.
3Khá thắt lưng người như kẻ dõng sĩ; Ta sẽ hỏi ngươi, ngươi sẽ chỉ dạy cho ta!
4Kie vi estis, kiam Mi fondis la teron? Diru, se vi havas scion.
4Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu? Nếu ngươi thông sáng, hãy tỏ bày đi.
5Kiu starigis ĝiajn mezurojn, se vi tion scias? Aŭ kiu etendis super ĝi rektoŝnuron?
5Ai đã định độ lượng nó, Và giăng dây mực trên nó, ngươi có biết chăng?
6Sur kio estas enfortikigitaj ĝiaj bazoj, Aŭ kiu kuŝigis ĝian angulŝtonon,
6Nền nó đặt trên chi? Ai có trồng hòn đá góc của nó?
7Dum komuna glorkantado de la matenaj steloj Kaj ĝojkriado de ĉiuj filoj de Dio?
7Trong khi ấy các sao mai đồng hát hòa nhau, Và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng.
8Kiu fermis la maron per pordoj, Kiam ĝi elpuŝiĝis kvazaŭ el la ventro de patrino;
8Vả lại, khi biển bể bờ và cất ra khỏi lòng đất, Ai đã lấy các cửa mà ngăn đóng nó lại?
9Kiam Mi faris la nubon ĝia vesto Kaj mallumon ĝiaj vindaĵoj,
9Khi ấy ta ban cho nó mây làm áo xống, Lấy tăm tối làm khăn vấn của nó;
10Kaj starigis al ĝi limon Kaj faris riglilojn kaj pordojn,
10Ta định giới hạn cho nó, Đặt then chốt và cửa của nó,
11Kaj diris: Ĝis ĉi tie aliru, sed ne plu, Kaj ĉi tie rompiĝados viaj majestaj ondoj?
11Mà rằng: Mầy đến đây, chớ không đi xa nữa, Các lượn sóng kiêu ngạo mầy phải dừng lại tại đây!
12Ĉu vi en via vivo iam ordonis al la mateno, Montris al la matenruĝo ĝian lokon,
12Từ khi ngươi sanh, ngươi há có sai khiến buổi sáng, Và phân định chỗ cho hừng đông,
13Ke ĝi kaptu la randojn de la tero, Kaj ke la malpiuloj deskuiĝu el ĝi;
13Để nó chiếu đến bốn bề trái đất, Và đuổi rảy kẻ gian ác khỏi nó chăng?
14Ke ilia internaĵo renversiĝu kiel koto, Kaj ke ili tute konfuziĝu;
14Trái đất biến hình như đất sét dưới dấu ấn, Và mọi vật hiện ra trau giồi như bằng áo.
15Ke de la malpiuloj forpreniĝu ilia lumo, Kaj ilia malhumila brako estu rompita?
15Sự sáng đã cất khỏi kẻ ác, Cánh tay chúng nó giơ lên, đã bị gãy rồi.
16Ĉu vi venis ĝis la fontoj de la maro? Kaj ĉu vi iradis sur la fundo de la abismo?
16Chớ thì ngươi có thấu đến nguồn của biển sao? Há có bước dưới đáy của vực sâu chăng?
17Ĉu malfermiĝis antaŭ vi la pordego de la morto? Kaj ĉu vi vidis la pordegon de la mallumego?
17Cửa âm phủ há có bày ra trước mặt ngươi chớ? Có thấy các cửa của bóng sự chết chăng?
18Ĉu vi pririgardis la larĝon de la tero? Diru, ĉu vi scias ĉion ĉi tion?
18Lằn mắt ngươi có thấu đến nơi khoan khoát mênh mông của đất chăng? Nếu ngươi biết các điều đó, hãy nói đi.
19Kie estas la vojo al la loĝejo de la lumo, Kaj kie estas la loko de la mallumo,
19Con đường dẫn đến nơi ở của ánh sáng là đâu? Còn nơi của tối tăm thì ở đâu?
20Ke vi konduku ĝin al ĝia limo, Kaj ke vi rimarku la vojetojn al ĝia domo?
20Chớ thì ngươi có thế dẫn nó lại vào địa giới nó sao? Có biết các đường lối của nhà nó ở chăng?
21Ĉu vi sciis, kiam vi naskiĝos Kaj kiel granda estos la nombro de viaj tagoj?
21Không sai, người biết mà! Vì ngươi đã sanh trước khi ấy, Số ngày ngươi lấy làm nhiều thay
22Ĉu vi venis al la devenejo de la neĝo, Kaj ĉu vi vidis la devenejon de la hajlo,
22Ngươi có vào các kho tuyết chăng? Có thấy nơi chứa mưa đá,
23Kiujn Mi konservas por la tempo de suferado, Por la tago de batalo kaj milito?
23Mà ta đã để dành cho thì hoạn nạn, Cho ngày chiến trận và giặc giã chăng?
24Kie estas la vojo, laŭ kiu dividiĝas la lumo, Diskuras la orienta vento super la teron?
24Aùnh sáng phân ra bởi đường nào, Và gió đông theo lối nào mà thổi ra trên đất?
25Kiu destinis direkton por la fluo Kaj vojon por la tondra fulmo,
25Ai đào kinh cho nước mưa chảy, Phóng đường cho chớp nhoáng của sấm sét,
26Por doni pluvon sur teron, kie neniu troviĝas, Sur dezerton senhoman,
26Để mưa xuống đất bỏ hoang, Và trên đồng vắng không có người ở;
27Por nutri dezerton kaj stepon Kaj kreskigi verdan herbon?
27Đặng tưới đất hoang vu, mong quạnh, Và làm cho các chồi cây cỏ mọc lên?
28Ĉu la pluvo havas patron? Aŭ kiu naskigis la gutojn de roso?
28Mưa có cha chăng? Ai sanh các giọt sương ra?
29El kies ventro eliris la glacio? Kaj kiu naskis la prujnon sub la ĉielo?
29Nước đá ra bởi lòng của ai? Ai đẻ ra sương móc của trời?
30Simile al ŝtono malmoliĝas la akvo, Kaj la supraĵo de la abismo kunfirmiĝas.
30Nước đông lại như đá, rồi ẩn bí, Và mặt vực sâu trở thành cứng.
31Ĉu vi povas ligi la ligilon de la Plejadoj? Aŭ ĉu vi povas malligi la ligon de Oriono?
31Ngươi có thế riết các dây chằng Sao rua lại, Và tách các xiềng Sao cầy ra chăng?
32Ĉu vi povas elirigi iliatempe la planedojn, Kaj konduki la Ursinon kun ĝiaj infanoj?
32Ngươi có thế làm cho các cung Huỳnh đạo ra theo thì, Và dẫn đường cho Bắc đẩu với các sao theo nó chăng?
33Ĉu vi konas la leĝojn de la ĉielo? Aŭ ĉu vi povas aranĝi ĝian regadon super la tero?
33Ngươi có biết luật của các từng trời sao? Có thể lập chủ quyền nó dưới đất chăng?
34Ĉu vi povas levi al la nubo vian voĉon, Ke abundo da akvo vin kovru?
34Ngươi có thế cất tiếng mình la lên cùng mây, Khiến cho mưa tuôn xuống thân ngươi chăng?
35Ĉu vi povas sendi fulmojn, Ke ili iru kaj diru al vi: Jen ni estas?
35Ngươi có thế thả chớp nhoáng ra, Để nó đi, và đáp với ngươi rằng: Thưa, chúng tôi đây?
36Kiu metis en la internon la saĝon? Kaj kiu donis al la koro la prudenton?
36Ai có đặt khôn ngoan trong lòng, Và ban sự thông sáng cho trí não?
37Kiu estas tiel saĝa, ke li povu kalkuli la nubojn? Kaj kiu elverŝas la felsakojn de la ĉielo,
37Ai nhờ sự khôn ngoan mà đếm được các mây? Khi bụi đất chảy như loài kim tan ra,
38Kiam la polvo kunfandiĝas Kaj la terbuloj kungluiĝas?
38Và các cục đất dính lại nhau, Ai nghiêng đổ những bình nước của các từng trời?
39Ĉu vi ĉasas kaptaĵon por la leonino, Kaj satigas la leonidojn,
39(039-2) Há có phải ngươi săn mồi cho sư tử cái, Và làm cho sư tử con đói được no sao?
40Kiam ili kuŝas en la nestegoj, Sidas embuske en la laŭbo?
40(039-1) Khi mẹ con sư tử nằm phục nơi hang, Khi rình trong bụi-rậm nó,
41Kiu pretigas al la korvo ĝian manĝaĵon, Kiam ĝiaj idoj krias al Dio, Vagflugas, ne havante, kion manĝi?
41(039-3) Ai sắm đồ ăn cho quạ, Khi con nhỏ nó kêu la cùng Đức Chúa Trời, Và bay đi đây đó không đồ ăn?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.