Jób
Chapter 30
Kralice Bible (1613)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Jób 30

Kralice Bible (1613)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Nyní pak posmívají se mi mladší mne, jejichž bych otců nechtěl byl postaviti se psy stáda svého.
1Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, Mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để Chung với chó của bầy chiên tôi.
2Ač síla rukou jejich k čemu by mi byla? Zmařena jest při nich starost jejich.
2Sức mạnh của họ đã hư bại rồi; Vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi?
3Nebo chudobou a hladem znuzeni, utíkali na planá, tmavá, soukromná a pustá místa.
3Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, Từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ.
4Kteříž trhali zeliny po chrastinách, ano i koření, a jalovec za pokrm byl jim.
4Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, Rễ cây giêng giếng làm vật thực cho họ.
5Z prostřed lidí vyháníni byli; povolávali za nimi, jako za zlodějem,
5Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người; Người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm.
6Tak že musili bydliti v výmolích potoků, v děrách země a skálí.
6Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, Trong hang đất và giữa các hòn đá.
7V chrastinách řvali, pod trní se shromažďovali,
7Chúng tru thét giữa bụi cây, Nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai.
8Lidé nejnešlechetnější, nýbrž lidé bez poctivosti, menší váhy i než ta země.
8Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, Họ bị đuổi ra khỏi xứ.
9Nyní, pravím, jsem jejich písničkou, jsa jim učiněn za přísloví.
9Còn bây giờ, tôi trở nên lời ca hát của họ, Làm đề cho chuyện trò của họ.
10V ošklivosti mne mají, vzdalují se mne, a na tvář mou nestydí se plvati.
10Họ gớm ghiếc tôi, xa lánh tôi, Không kiêng nhổ khạc nơi mặt tôi.
11Nebo Bůh mou vážnost odjal, a ssoužil mne; pročež uzdu před přítomností mou svrhli.
11Bởi vì Đức Chúa Trời đã làm dùn dây cung tôi, và sỉ nhục tôi. Chúng ném hàm khớp khỏi trước mặt tôi.
12Po pravici mládež povstává, nohy mi podrážejí, tak že šlapáním protřeli ke mně stezky nešlechetnosti své.
12Cái nố lu la nầy dấy lên nơi tay hữu tôi; Chúng xô đẩy chân tôi, Sửa soạn cho tôi con đường hiểm độc của chúng.
13Mou pak stezku zkazili, k bídě mé přidali, ač jim to nic nepomůže.
13Chúng phá hủy đường lối tôi, Giúp vào việc tàn hại tôi; Song chẳng có ai đến tiếp cứu chúng.
14Jako širokou mezerou vskakují, a k vyplénění mému valí se.
14Chúng do nơi hư lũng lớn mà đến, Xông vào tôi giữa sự đồi tàn.
15Obrátily se na mne hrůzy, stihají jako vítr ochotnost mou, nebo jako oblak pomíjí zdraví mé.
15Các sự kinh khủng hãm áp tôi, Đuổi theo sự sang trọng tôi khác nào gió mạnh, Và sự phước hạnh tôi đã qua như đám mây.
16A již ve mně rozlila se duše má, pochytili mne dnové trápení mého,
16Bây giờ, linh hồn tôi tan ra trong mình tôi; Các ngày gian nan đã hãm bắt tôi,
17Kteréž v noci vrtá kosti mé ve mně; pročež ani nervové moji neodpočívají.
17Đêm soi xương cốt tôi làm nó rời ra khỏi tôi, Đau đớn vẫn cắn rỉa tôi, không ngưng nghỉ chút nào.
18Oděv můj mění se pro násilnou moc bolesti, kteráž mne tak jako obojek sukně mé svírá.
18Vì cớ năng lực lớn của Đức Chúa Trời, áo ngoài tôi hư nát; Năng lực ấy riết khít tôi lại như cổ áo tôi.
19Uvrhl mne do bláta, tak že jsem již podobný prachu a popelu.
19Đức Chúa Trời có ném tôi xuống bùn, Tôi trở nên giống như bụi và tro.
20Volám k tobě, ó Bože, a neslyšíš mne; postavuji se, ale nehledíš na mne.
20Tôi kêu la cùng Chúa, song Chúa chẳng đáp lời; Tôi đứng tại đó, và Chúa chỉ ngó xem tôi.
21Obrátils mi se v ukrutného nepřítele, silou ruky své mi odporuješ.
21Chúa trở nên dữ tợn đối với tôi, Lấy năng lực tay Chúa mà rượt đuổi tôi.
22Vznášíš mne u vítr, sázíš mne na něj, a k rozplynutí mi přivodíš zdravý soud.
22Chúa cất tôi lên trên cánh gió, Khiến nó đem tôi đi, và tiêu diệt tôi giữa trận bão.
23Nebo vím, že mne k smrti odkážeš, a do domu, do něhož se shromažďuje všeliký živý.
23Vì tôi biết rằng Chúa sẽ dẫn tôi đến chốn sự chết, Là nơi hò hẹn của các người sống.
24Jistě žeť nevztáhne Bůh do hrobu ruky, by pak, když je stírá, i volali.
24Song trong khi người nào bị tàn hại, họ há chẳng giơ tay ra sao? Hoặc đang cơn tai nạn, họ há không cất tiếng kêu la ư?
25Zdaliž jsem neplakal nad tím, kdož okoušel zlých dnů? Duše má kormoutila se nad nuzným.
25Chớ thì tôi không khóc kẻ bị thời thế khó khăn sao? Lòng tôi há chẳng buồn thảm vì kẻ nghèo khổ sao?
26Když jsem dobrého čekal, přišlo mi zlé; nadál jsem se světla, ale přišla mrákota.
26Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho.
27Vnitřností mé zevřely, tak že se ještě neupokojily; předstihli mne dnové trápení.
27Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi.
28Chodím osmahlý, ne od slunce, povstávaje, i mezi mnohými křičím.
28Tôi đi mình mảy bằm đen, nhưng chẳng phải bị nắng ăn; Tôi chổi dậy giữa hội chúng và kêu cầu tiếp cứu.
29Bratrem učiněn jsem draků, a tovaryšem mladých pstrosů.
29Tôi bèn trở thành anh em của chó rừng, Và bầu bạn của con đà điểu.
30Kůže má zčernala na mně, a kosti mé vyprahly od horkosti.
30Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi.
31A protož v kvílení obrátila se harfa má, a píšťalka má v hlas plačících.
31Vì cớ ấy, tiếng đàn cầm tôi trở nên tiếng ai bi, Và đàn sắt tôi chỉ ra tiếng thảm sầu.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.