Јов 30
Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicTranslation
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1А сада смеју ми се млађи од мене, којима отаца не бих хтео метнути са псима стада свог.
1Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, Mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để Chung với chó của bầy chiên tôi.
2А на шта би ми и била сила руку њихових? У њима беше пропала старост.
2Sức mạnh của họ đã hư bại rồi; Vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi?
3Од сиромаштва и глади самоћаваху бежећи од сува, мрачна, пуста и опустошена места;
3Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, Từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ.
4Који браху лободу по честама, и смреково корење беше им храна.
4Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, Rễ cây giêng giếng làm vật thực cho họ.
5Између људи беху изгоњени и викаше се за њима као за лупежом.
5Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người; Người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm.
6Живљаху по страшним увалама, по јамама у земљи и у камену.
6Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, Trong hang đất và giữa các hòn đá.
7По грмовима рикаху, под трњем се скупљаху.
7Chúng tru thét giữa bụi cây, Nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai.
8Беху људи никакви и без имена, мање вредни него земља.
8Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, Họ bị đuổi ra khỏi xứ.
9И њима сам сада песма, и постах им прича.
9Còn bây giờ, tôi trở nên lời ca hát của họ, Làm đề cho chuyện trò của họ.
10Гаде се на ме, иду далеко од мене и не устежу се пљувати ми у лице.
10Họ gớm ghiếc tôi, xa lánh tôi, Không kiêng nhổ khạc nơi mặt tôi.
11Јер је Бог одапео моју тетиву и муке ми задао те збацише узду преда мном.
11Bởi vì Đức Chúa Trời đã làm dùn dây cung tôi, và sỉ nhục tôi. Chúng ném hàm khớp khỏi trước mặt tôi.
12С десне стране устајаху момци, поткидаху ми ноге, и насипају пут к мени да ме упропасте.
12Cái nố lu la nầy dấy lên nơi tay hữu tôi; Chúng xô đẩy chân tôi, Sửa soạn cho tôi con đường hiểm độc của chúng.
13Раскопаше моју стазу, умножише ми муке, не треба нико да им помаже.
13Chúng phá hủy đường lối tôi, Giúp vào việc tàn hại tôi; Song chẳng có ai đến tiếp cứu chúng.
14Као широким проломом навиру, и наваљују преко развалина.
14Chúng do nơi hư lũng lớn mà đến, Xông vào tôi giữa sự đồi tàn.
15Страхоте навалише на ме, и као ветар терају душу моју, и као облак прође срећа моја.
15Các sự kinh khủng hãm áp tôi, Đuổi theo sự sang trọng tôi khác nào gió mạnh, Và sự phước hạnh tôi đã qua như đám mây.
16И сада се душа моја разлива у мени, стигоше ме дани мучни.
16Bây giờ, linh hồn tôi tan ra trong mình tôi; Các ngày gian nan đã hãm bắt tôi,
17Ноћу пробада ми кости у мени, и жиле моје не одмарају се.
17Đêm soi xương cốt tôi làm nó rời ra khỏi tôi, Đau đớn vẫn cắn rỉa tôi, không ngưng nghỉ chút nào.
18Од тешке силе променило се одело моје, и као огрлица у кошуље моје стеже ме.
18Vì cớ năng lực lớn của Đức Chúa Trời, áo ngoài tôi hư nát; Năng lực ấy riết khít tôi lại như cổ áo tôi.
19Бацио ме је у блато, те сам као прах и пепео.
19Đức Chúa Trời có ném tôi xuống bùn, Tôi trở nên giống như bụi và tro.
20Вичем к Теби, а Ти ме не слушаш; стојим пред Тобом, а Ти не гледаш на ме.
20Tôi kêu la cùng Chúa, song Chúa chẳng đáp lời; Tôi đứng tại đó, và Chúa chỉ ngó xem tôi.
21Претворио си ми се у љута непријатеља; силом руке своје супротиш ми се.
21Chúa trở nên dữ tợn đối với tôi, Lấy năng lực tay Chúa mà rượt đuổi tôi.
22Подижеш ме у ветар, посађујеш ме на њ, и растапаш у мени све добро.
22Chúa cất tôi lên trên cánh gió, Khiến nó đem tôi đi, và tiêu diệt tôi giữa trận bão.
23Јер знам да ћеш ме одвести на смрт и у дом одређени свима живима.
23Vì tôi biết rằng Chúa sẽ dẫn tôi đến chốn sự chết, Là nơi hò hẹn của các người sống.
24Али неће пружити руке своје у гроб; кад их стане потирати, они неће викати.
24Song trong khi người nào bị tàn hại, họ há chẳng giơ tay ra sao? Hoặc đang cơn tai nạn, họ há không cất tiếng kêu la ư?
25Нисам ли плакао ради оног који беше у злу? Није ли душа моја жалосна бивала ради убогог?
25Chớ thì tôi không khóc kẻ bị thời thế khó khăn sao? Lòng tôi há chẳng buồn thảm vì kẻ nghèo khổ sao?
26Кад се добру надах, дође ми зло; и кад се надах светлости, дође мрак.
26Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho.
27Утроба је моја узаврела, и не може да се умири, задесише ме дани мучни.
27Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi.
28Ходим црн, не од сунца, устајем и вичем у збору.
28Tôi đi mình mảy bằm đen, nhưng chẳng phải bị nắng ăn; Tôi chổi dậy giữa hội chúng và kêu cầu tiếp cứu.
29Брат постах змајевима и друг совама.
29Tôi bèn trở thành anh em của chó rừng, Và bầu bạn của con đà điểu.
30Поцрнела је кожа на мени и кости моје посахнуше од жеге.
30Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi.
31Гусле се моје претворише у запевку, и свирала моја у плач.
31Vì cớ ấy, tiếng đàn cầm tôi trở nên tiếng ai bi, Và đàn sắt tôi chỉ ra tiếng thảm sầu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.