Јаковљева
Chapter 1

Јаковљева

Daničić–Karadžić Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Јаковљева 1

Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Од Јакова, Бога и Господа Исуса Христа слуге, свима дванаест колена расејаним по свету поздравље.
1Gia-cơ, tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ, đạt cho mười hai chi phái ở tan lạc, chúc bình an!
2Сваку радост имајте, браћо моја, кад падате у различне напасти,
2Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn,
3знајући да кушање ваше вере гради трпљење;
3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục.
4а трпљење нека дело довршује, да будете савршени и цели без икакве мане.
4Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào.
5Ако ли коме од вас недостаје премудрости, нека иште у Бога који даје свакоме без разлике и не кори никога, и даће му се;
5Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.
6али нека иште с вером, не сумњајући ништа; јер који се сумња он је као морски валови, које ветрови подижу и размећу.
6Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó.
7Јер такав човек нека не мисли да ће примити шта од Бога.
7Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa:
8Који двоуми непостојан је у свима путевима својим.
8ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.
9А понижени брат нека се хвали висином својом;
9Anh em nào ở địa vị thấp hèn hãy khoe mình về phần cao trọng mình,
10а богати својом понизношћу; јер ће проћи као цвет травни.
10kẻ giàu cũng hãy khoe mình về phần đê hèn, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.
11Јер сунце огреја с врућином, и осуши траву, и цвет њен отпаде, и красота лица њена погибе; тако ће и богати у хођењу свом увенути.
11Mặt trời mọc lên, nắng xẳng, cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp tồi tàn: kẻ giàu cũng sẽ khô héo như vậy trong những việc mình làm.
12Благо човеку који претрпи напаст; јер кад буде кушан примиће венац живота, који Бог обрече онима који га љубе.
12Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.
13Ниједан кад се куша да не говори: Бог ме куша; јер се Бог не може злом искушати, и Он не куша никога;
13Chớ có ai đang bị cám dỗ mà nói rằng: Aáy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.
14него сваког куша његова сласт, која га вуче и мами.
14Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình.
15Тада затрудневши сласт рађа грех; а грех учињен рађа смрт.
15Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.
16Не варајте се, љубазна браћо моја!
16Hỡi anh em yêu dấu, chớ tự dối mình:
17Сваки добри дар и сваки поклон савршени одозго је, долази од Оца светлости, у ког нема промењивања ни мењања видела и мрака;
17mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào.
18јер нас драговољно породи речју истине, да будемо новина од Његовог створења.
18Aáy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sanh chúng ta, hầu cho chúng ta được nên như trái đầu mùa của những vật Ngài dựng nên.
19Зато, љубазна браћо моја, нека буде сваки човек брз чути а спор говорити и спор срдити се.
19Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận;
20Јер срдња човечија не чини правде Божије.
20vì cơn giận của người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời.
21Зато одбаците сваку нечистоту и сувишак злобе, и с кротошћу примите усађену реч која може спасти душе ваше.
21Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế, và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em.
22Будите, пак, творци речи, а не само слушачи, варајући сами себе.
22Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.
23Јер ако ко слуша реч а не твори, он је као човек који гледа лице тела свог у огледалу;
23Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương,
24јер се огледа па отиде, и одмах заборави какав беше.
24thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào.
25Али који провиди у савршени закон слободе и остане у њему, и не буде заборавни слушач, него творац дела, онај ће бити блажен у делу свом.
25Nhưng kẻ nào xét kĩ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời.
26Ако који од вас мисли да верује, и не зауздава језик свој, него вара срце своје, његова је вера узалуд.
26Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích.
27Јер вера чиста и без мане пред Богом и Оцем јесте ова: обилазити сироте и удовице у њиховим невољама, и држати себе неопогањеног од света.
27Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.