Job 4
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To naah Teman acaeng Eliphaz mah,
1Bấy giờ, Ê-li-pha, người Thê-man đáp lời mà rằng:
2lok kang thuih o nahaeloe, na thaima doeh om tih, toe mi maw lokthui ai ah om thai tih?
2Nếu người ta thử nói với ông, ông sẽ mất lòng chăng? Nhưng ai cầm giữ mình không nói sao được?
3Khenah, kami paroeai na thuitaek boeh, thacak ai kaminawk ih ban to tha na caksak boeh.
3Kìa, ông đã dạy dỗ nhiều người, Và làm cho tay yếu đuối ra mạnh mẽ;
4Amtimh kami to na lok hoiah na patawnh moe, thacak khokkhu to tha na caksak boeh.
4Các lời nói ông đã đỡ kẻ xiêu tó lên, Và đầu gối lung lay, ông đã làm cho vững bền.
5Toe vaihi loe na nuiah raihaih phak moe, palung na boeng sut boeh; ang boh moe, raihaih na tongh boeh.
5Nhưng bây giờ tai nạn xảy đến ông, ông lại giận; Nó lâm vào ông, thì ông bị rối lòng.
6Hae loe sithaw na zithaih, na oephaih hoi toenghaih loklam ah na ai maw oh?
6Oâng kính sợ Đức Chúa Trời, ấy há chẳng phải nơi nương nhờ của ông? Tánh hạnh hoàn toàn của ông, há chẳng phải sự trông cậy của ông sao?
7Zaehaih tawn ai kami loe amro vai maw? To tih ai boeh loe kawbaktih ahmuen ah maw katoeng kami amro vaih? Tito poek ah.
7Oâng hãy suy xét lại, nào bao giờ có kẻ vô tội bị hư mất? Đâu có người ngay thẳng lại bị trừ diệt?
8Ka hnuk ih baktih toengah, kahoih ai hmuen sah kami, sethaih aanmu haeh kami ni, a sak ih baktih toengah aah.
8Theo điều tôi đã thấy, ai cày sự gian ác, Và gieo điều khuấy rối, thì lại gặt lấy nó.
9To baktih kaminawk loe Sithaw ih palungphuihaih hoiah amro o moe, Sithaw anghahhaih takhi hoiah duek o.
9Bởi hơi thở Đức Chúa Trời, chúng bèn hư mất, Tại hơi xịt giận Ngài, họ bị tiêu hao đi.
10Nihcae loe kasan kaipui ih lok baktih, kaipui baktiah hang o cadoeh, kaipui haa kangkhaek baktiah amro o.
10Tiếng gầm của sư tử, và giọng sư tử hét đã êm lặng, Và nanh của các sư tử con bị gãy.
11Kaipui mitong loe caak han moi om ai pongah duek, a caanawk loe anghmaa angtaa o.
11Sư tử mạnh bạo chết vì thiếu mồi, Và các sư tử con bị tản lạc.
12Vaihi kai khaeah tamquta hoi lok ang thuih, thuih duem ih lok to ka thaih.
12Có một lời mật thấu đến tôi, Lỗ tai tôi văng vẳng nghe tiếng ấy,
13Kaminawk loe iih o boih boeh, qum amang ah hnuksakhaih to ka poek naah,
13Ban đêm đang khi loài người ngủ mê, Lòng tôi suy tưởng, bèn thấy dị tượng,
14zithaih ka nuiah phak naah, ka huhnawk anghuenh khoek to tasoeh takuenhaih hoiah ka oh.
14Sự kinh khủng sợ hãi xông hãm tôi, Khiến xương cốt tôi run rẩy.
15Ka hmaa ah muithla caeh pongah; ka nganmui angthawk tahang;
15Có một thần đi ngang qua trước mặt tôi; Các lông tóc của thịt tôi bèn xửng lên.
16to muithla loe angdoet sut, krang loe kahoih ah amtueng ai, krang tahlip khue ni ka hnuk; to naah kamding rue, to pacoengah ka thaih ih lok maeto mah,
16Thần đứng đó, tôi nhìn không biết mặt người; Có một hình dạng ở trước mặt tôi. Tôi nghe tiếng thầm thì nho nhỏ, mà rằng:
17kadueh thaih kami loe Sithaw pongah toeng kue maw? Kami loe anih sahkung pongah ciim kue maw?
17“Loài người hay chết, há công bình hơn Đức Chúa Trời ư? Loài người há được trong sạch hơn Đấng Tạo hóa mình sao?”
18Khenah, Sithaw mah loe a tamnanawk maeto mataeng doeh oep ai; angmah ih vankaminawk mataeng doeh sakpazaehaih hnu nahaeloe,
18Kìa, Đức Chúa Trời không tin cậy các tôi tớ Ngài, Ngài thường trách sự điên dại của thiên sứ Ngài.
19tangphrung long hoiah sak ih im ah kaom, karaa pongah amro han kazoi kue, maiphu hoiah sak ih kaminawk cae loe kawkruk maw sakpazaehaih hnu pae tih!
19Phương chi những kẻ ở chòi đất sét được cất trên nền bụi cát, Bị chà nát như loài sâu mọt!
20Nihcae loe akhawnbang hoi duembang salakah amro o moe, mi mah doeh panoek ai ah dungzan khoek to anghmat o.
20Giữa khoảng sáng đến chiều, chúng bị hư nát; Hằng chết luôn luôn, mà chẳng có ai lưu ý đến.
21Nihcae hoihhaih loe anghmat moe, nihcae loe palunghahaih tawn ai ah duek o na ai maw? tiah thuih.
21Dây chằng của chúng há chẳng bị dứt trong mình họ sao? Chúng thác, nào được khôn ngoan chi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.